Hà Nội: 23°C
Thừa Thiên Huế: 23°C
TP Hồ Chí Minh: 26°C
Hải Phòng: 24°C
Quảng Ninh: 21°C

Chiến thắng Điện Biên Phủ – Bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng và ý nghĩa trong bối cảnh mới hiện nay

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nhân dân Việt Nam giành thắng lợi vĩ đại, với đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Vượt lên ý nghĩa của một thắng lợi quân sự đơn thuần, Điện Biên Phủ phản ánh sự trưởng thành toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc hoạch định đường lối, tổ chức lực lượng và lãnh đạo Nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng theo phương châm “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh”. Bài viết tập trung làm rõ thắng lợi cũng như những bài học kinh nghiệm có giá trị bền vững về sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong bối cảnh mới hiện nay.

Từ khóa: Điện Biên Phủ; bài học kinh nghiệm; sự lãnh đạo của Đảng; bối cảnh mới.

1. Chiến thắng Điện Biên Phủ – Cơn bão lửa năm mươi sáu ngày đêm trên mảnh đất lịch sử

Chiến dịch Điện Biên Phủ là cuộc chiến cam go, ác liệt, có tính chất quyết định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, diễn ra trong điều kiện so sánh lực lượng hết sức bất lợi cho ta. Với âm mưu xây dựng Điện Biên Phủ thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, thực dân Pháp đã tập trung tại đây một lực lượng hùng hậu khoảng 16.200 quân, gồm 21 tiểu đoàn, trong đó có: 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 phi đội không quân, 1 đại đội xe tăng và 1 đại đội vận tải cơ giới. Đồng thời, Pháp còn tổ chức hệ thống bảo đảm kỹ thuật, hậu cần hiện đại, có dây chuyền lắp ráp xe tăng tại chỗ. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 49 cứ điểm, liên kết với nhau thành các cụm phòng ngự chặt chẽ, bao gồm: hệ thống trung tâm đề kháng ở khu vực trung tâm, các cứ điểm bảo vệ vòng ngoài và khu vực hỏa lực chi viện.

Hệ thống công sự được xây dựng kiên cố với mạng lưới dây thép gai, bãi mìn, vật cản dày đặc, tạo thành tuyến phòng thủ liên hoàn, nhiều tầng, nhiều lớp. Với ưu thế về binh lực, hỏa lực và phương tiện kỹ thuật, Tướng Navarre coi Điện Biên Phủ là “pháo đài không thể công phá”1, nhằm thu hút và tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta.

Về phía Việt Nam, tham gia chiến dịch là lực lượng khoảng 55.000 cán bộ, chiến sĩ, gồm các đơn vị bộ binh, pháo binh, phòng không và công binh. Cùng với đó, Trung ương Đảng đã huy động khoảng 260.000 lượt dân công và khối lượng lớn phương tiện thô sơ, vật tư, lương thực phục vụ chiến dịch2. Mặc dù còn nhiều hạn chế về trang bị kỹ thuật, đặc biệt là không quân, song quân và dân ta đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ và sức mạnh của chiến tranh nhân dân.

Trước tình hình thực tiễn cuối năm 1953, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đã kịp thời phân tích, quyết định chủ trương chiến lược “giữ vững quyền chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng”3. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được giao làm Chỉ huy trưởng chiến dịch. Dựa trên tinh thần Hội nghị Trung ương ngày 14/11/1953, ta dự kiến thực hiện phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, với kế hoạch mở màn chiến dịch vào cuối tháng 01/1954. Đây là bước chuẩn bị quan trọng, thể hiện sự chủ động và quyết tâm cao của Đảng trong việc tổ chức trận quyết chiến chiến lược tại Điện Biên Phủ.

Trong trận đánh quyết định này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao trọn niềm tin cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và căn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”4. Lời dạy đó không chỉ thể hiện tư duy quân sự khoa học, thận trọng mà còn trở thành nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng trận địa và chuẩn bị lực lượng, Bộ Chỉ huy chiến dịch phải đối mặt với nhiều khó khăn về địa hình, hậu cần, phương tiện kỹ thuật và khả năng bảo đảm tác chiến. Điều kiện thực tiễn không cho phép thực hiện phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” như kế hoạch ban đầu. Trước tình hình đó, để tránh tổn thất và bảo đảm cho cuộc chiến đi đến thắng lợi, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã chủ động, sáng tạo điều chỉnh phương châm tác chiến, chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược kịp thời, đúng đắn, thể hiện bản lĩnh chính trị, tư duy độc lập và năng lực lãnh đạo linh hoạt của Đảng trong điều kiện chiến tranh phức tạp.

Trong khi đó, Pháp và Mỹ rơi vào ảo tưởng cho rằng, sau chiến dịch Đông – Xuân 1953-1954, quân đội ta đã huy động gần như toàn bộ lực lượng, không còn khả năng tiến hành những chiến dịch quy mô lớn tiếp theo. Tuy nhiên, nhận định chủ quan này đã dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong đánh giá tương quan lực lượng. Đúng 17 giờ 05 phút ngày 13/3/1954, quân ta đồng loạt mở cuộc tiến công quy mô lớn vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trước khi tiến công, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra lệnh động viên toàn thể cán bộ, chiến sĩ và các đơn vị, binh chủng: “Tiêu diệt toàn bộ quân địch tại Điện Biên Phủ, giành đại thắng cho chiến dịch. Giờ ra trận đã đến! Tất cả các cán bộ và chiến sĩ, tất cả các đơn vị, tất cả các binh chủng hãy dũng cảm tiến lên, thi đua lập công, giật lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” của Hồ Chủ tịch!”5. Lời hiệu triệu đã tạo nên khí thế quyết tâm cao độ, cổ vũ tinh thần chiến đấu của toàn quân trong suốt chiến dịch.

Ban đầu, Đảng ta dự kiến chiến dịch Điện Biên Phủ có thể diễn ra trong hai đợt tiến công. Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình chiến trường, chiến dịch đã được triển khai qua ba đợt, kéo dài liên tục trong 56 ngày đêm, thể hiện sự linh hoạt, chủ động trong chỉ đạo và điều hành tác chiến.

Đợt tiến công thứ nhất diễn ra từ ngày 13 – 17/3/1954. Quân ta tập trung tiêu diệt các cứ điểm Him Lam, Độc Lập và uy hiếp Bản Kéo, đồng thời, tiến công sân bay Mường Thanh. Ngay trong ngày mở màn, hỏa lực pháo binh ta đã chế áp hiệu quả các trận địa pháo địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh tiến công. Kết quả, các cứ điểm Him Lam và Độc Lập lần lượt bị tiêu diệt, lực lượng địch ở Bản Kéo hoang mang, tan rã. Đợt tiến công thứ nhất kết thúc với thắng lợi quan trọng, tạo thế và lực cho các đợt tiếp theo, góp phần quyết định vào thắng lợi chung của toàn chiến dịch.

Đợt tiến công thứ hai diễn ra từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954. Trong giai đoạn này, quân ta tiếp tục tiến công các cao điểm phía Đông, đồng thời, siết chặt vòng vây quanh khu trung tâm Mường Thanh. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, kéo dài, đặc biệt tại các điểm cao C1 và A1 – những vị trí then chốt trong hệ thống phòng ngự của địch. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do điều kiện thời tiết bất lợi và môi trường chiến đấu khắc nghiệt, song với tinh thần kiên cường, bền bỉ, quân ta từng bước làm chủ trận địa, phá vỡ tuyến phòng ngự chủ yếu của đối phương. Đến giữa tháng 4/1954, ta cơ bản khống chế được không phận Điện Biên Phủ, làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tiếp tế, chi viện và cơ động lực lượng của địch.

Đợt tiến công thứ ba, cũng là đợt cuối cùng của chiến dịch, diễn ra từ ngày 01/5 – 07/5/1954. Phát huy cao độ tinh thần “quyết chiến, quyết thắng” và sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, quân ta mở cuộc tổng công kích vào các cứ điểm còn lại, tập trung trọng điểm vào khu trung tâm chỉ huy của địch. Hỏa lực pháo binh các cỡ được sử dụng với cường độ lớn, liên tục chế áp hệ thống phòng ngự đối phương, làm tê liệt hoàn toàn các trận địa pháo, đặc biệt tại khu vực Hồng Cúm.

Đến sáng ngày 07/5/1954, các đơn vị chủ lực của ta cơ bản hoàn thành nhiệm vụ được giao, tạo thế và lực thuận lợi để chuyển sang tổng công kích. Trong bối cảnh đó, lực lượng địch rơi vào tình trạng suy kiệt nghiêm trọng cả về tinh thần lẫn vật chất; hệ thống chỉ huy bị tê liệt, khả năng kháng cự hầu như không còn. Nắm bắt thời cơ quyết định, vào 15 giờ ngày 07/5/1954, Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng công kích vào toàn bộ khu trung tâm chỉ huy của địch, với yêu cầu đánh nhanh, đánh mạnh, bao vây chặt chẽ, không để đối phương rút chạy. Dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng và Bộ Chỉ huy, các đơn vị chủ lực đồng loạt tiến công, nhanh chóng làm chủ sở chỉ huy của tướng De Castries và các cứ điểm còn lại⁶. Kết quả, toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt và bắt sống trong ngày 07/5/1954. Lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy địch, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của kế hoạch quân sự Navarre, kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, tạo bước ngoặt mang tầm vóc thời đại đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam.

2. Bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng trong chiến thắng Điện Biên Phủ

Một là, kiên định mục tiêu chiến lược, giữ vững bản lĩnh chính trị.

Bài học kinh nghiệm nổi bật, có ý nghĩa hàng đầu rút ra từ chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kiên định mục tiêu chiến lược của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đảng ta luôn giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, không dao động trước những khó khăn, thử thách và sự chênh lệch lớn về tương quan lực lượng. Mặc dù đối phương có ưu thế vượt trội về quân sự, kinh tế và kỹ thuật, Đảng ta vẫn kiên định lập trường, không bị chi phối bởi những toan tính chiến thuật ngắn hạn, kiên quyết bảo vệ lợi ích căn bản và lâu dài của dân tộc. Chính sự kiên định đó đã tạo nên nền tảng tư tưởng – chính trị vững chắc, bảo đảm cho đường lối, chủ trương kháng chiến được triển khai một cách nhất quán, đồng bộ và hiệu quả trên phạm vi cả nước.

Tại những thời điểm mang tính quyết định của chiến dịch Điện Biên Phủ, trước những biến động phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế, Đảng đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, kịp thời đưa ra những quyết sách chiến lược đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và lợi ích lâu dài của dân tộc, kiên định đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của Nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được7 . Quán triệt sâu sắc tư tưởng đó, Trung ương Đảng đã phân tích đúng tình hình, đề ra chiến lược phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh cách mạng và nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân; đồng thời, tổ chức, động viên toàn dân tham gia kháng chiến, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân “ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích” làm nòng cốt. Trong quá trình đó, tinh thần độc lập, tự chủ, dựa vào sức mình là chính của quân và dân ta được phát huy cao độ dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Điều đó cho thấy, giữ vững mục tiêu chiến lược là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự lãnh đạo đúng hướng và thành công của cách mạng.

Đây là bài học có giá trị xuyên suốt trong mọi giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, góp phần giúp Đảng giữ vững phương hướng lãnh đạo, củng cố niềm tin của Nhân dân và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là minh chứng sinh động cho giá trị của việc vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh một nước thuộc địa, nửa phong kiến, với tương quan lực lượng bất lợi, Đảng đã thể hiện tư duy độc lập, tự chủ trong việc xác định đường lối kháng chiến phù hợp với đặc điểm dân tộc và hoàn cảnh lịch sử của đất nước. Quá trình chuẩn bị và tổ chức chiến dịch cho thấy sự nhạy bén trong nhận thức, khả năng phân tích thực tiễn và điều chỉnh kịp thời tư duy chỉ đạo của Đảng và Bộ Chỉ huy chiến dịch trước những biến động phức tạp của chiến trường.

Các quyết sách quan trọng không xuất phát từ ý chí chủ quan mà dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn chiến tranh, yêu cầu bảo toàn lực lượng, phát huy thế mạnh của ta và từng bước làm thay đổi cục diện chiến trường theo hướng có lợi. Ban đầu, Bộ Chỉ huy dự kiến thực hiện phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, xuất phát từ nhận định rằng hệ thống phòng ngự của địch chưa hoàn chỉnh, khả năng tăng viện còn hạn chế, có thể tạo yếu tố bất ngờ chiến lược. Tuy nhiên, khi tình hình thay đổi, đối phương tăng cường lực lượng và củng cố công sự, điều kiện thực tiễn không còn phù hợp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chủ động, sáng tạo chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, đồng thời, quyết định điều chỉnh thời điểm mở màn chiến dịch. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược này thể hiện rõ tư duy biện chứng, linh hoạt và khoa học trong vận dụng lý luận Mác – Lênin vào thực tiễn chiến tranh cách mạng. Quyết định đó đã nhận được sự thống nhất cao của Bộ Chính trị, góp phần tránh được những sai lầm chủ quan, duy ý chí, đồng thời, tạo điều kiện phát huy tối đa các yếu tố thuận lợi nảy sinh trong thực tiễn chiến đấu. Nhờ sự vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân được phát huy đầy đủ, tạo nên ưu thế ngày càng rõ rệt cho quân và dân ta trong suốt quá trình chiến dịch. Thực tiễn này khẳng định, việc kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn là nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo đúng đắn và hiệu quả của Đảng.

Đây là bài học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, có ý nghĩa lâu dài đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng trong mọi giai đoạn lịch sử, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới, hội nhập và phát triển hiện nay.

Ba là, xây dựng và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết quả tổng hợp của sự đoàn kết, đồng lòng và nỗ lực bền bỉ của toàn dân tộc, từ cán bộ, chiến sĩ nơi tiền tuyến đến đồng bào các dân tộc ở hậu phương. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và Nhân dân không ngừng được xây dựng và củng cố, tạo nền tảng vững chắc để huy động, tổ chức và phát huy cao độ sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp kháng chiến. Thông qua việc quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, Đảng đã biến niềm tin của Nhân dân đối với Đảng thành động lực tinh thần to lớn, cổ vũ toàn dân tham gia kháng chiến với tinh thần “Tất cả cho chiến dịch Điện Biên Phủ”, “Tất cả cho tiền tuyến”. Những hình ảnh “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” của bộ đội nơi chiến trường, hệ thống bếp Hoàng Cầm được bố trí trong lòng đất để bảo đảm bí mật, an toàn, cùng với các đoàn dân công ngày đêm vận chuyển lương thực, vũ khí đã trở thành biểu tượng sinh động của ý chí, nghị lực và tinh thần hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.

Mặc dù phải đối mặt với sự ác liệt của chiến tranh và muôn vàn khó khăn, gian khổ, quân và dân ta vẫn kiên cường vượt qua mưa bom, bão đạn, bảo đảm thông suốt các tuyến vận tải chiến lược, duy trì nhịp độ tác chiến liên tục. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Chúng ta, những người trong cuộc, đều biết rõ dân tộc ta đã thắng, trước hết là do sức sống mãnh liệt của nền văn hóa lâu đời, của truyền thống yêu nước hàng nghìn năm, của tinh thần đấu tranh bất khuất thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ”8. Trong suốt 56 ngày đêm chiến đấu, lần đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm, Nhân dân ta đã huy động được một lực lượng vật chất và tinh thần to lớn chưa từng có, với hàng chục nghìn tấn lương thực, thực phẩm, phương tiện vận tải và hàng vạn lượt dân công phục vụ chiến dịch. Đồng thời, ta đã tổ chức và sử dụng lực lượng vũ trang quy mô lớn, với bốn đại đoàn bộ binh chủ lực và các đơn vị pháo binh, công binh, tạo nên sức mạnh vượt trội so với các chiến dịch trước đó.

Thực tiễn cho thấy, nếu không có sự đóng góp to lớn về sức người, sức của và tinh thần hy sinh của Nhân dân thì không thể làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Với hậu phương vững chắc, được tổ chức chặt chẽ và động viên hiệu quả, quân và dân ta đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, mang tính quyết định đối với thắng lợi của chiến dịch. Ngay cả Tướng Navarre cũng phải thừa nhận thất bại của quân đội Pháp ở Việt Nam là do “quân đội viễn chinh Pháp không phải chỉ chống chọi với một quân đội chính quy, mà còn phải đương đầu với cả một dân tộc”9.

Từ thực tiễn đó, có thể khẳng định: xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Đây là bài học có giá trị bền vững, tiếp tục khẳng định chân lý: “Mọi thắng lợi của cách mạng đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”.

Bốn là, xây dựng Đảng vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu.

Thực tiễn chiến thắng Điện Biên Phủ khẳng định sâu sắc rằng, thắng lợi của cách mạng không thể tách rời vai trò lãnh đạo của một đảng cách mạng được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có năng lực lãnh đạo thực tiễn cao và bản lĩnh chính trị vững vàng. Đây là minh chứng hùng hồn cho vai trò lãnh đạo đúng đắn, năng lực tổ chức vượt trội và sức chiến đấu bền bỉ của Đảng trong điều kiện chiến tranh hết sức phức tạp, khốc liệt. Trong chiến dịch, năng lực lãnh đạo của Đảng được thể hiện tập trung ở việc lựa chọn đúng chiến trường, đúng thời điểm và đúng phương thức tác chiến, qua đó, thể hiện tầm nhìn chiến lược, khả năng dự báo và tư duy chỉ đạo khoa học. Đồng thời, Đảng đã tổ chức và điều hành chiến dịch trên quy mô lớn, huy động và phối hợp đồng bộ, hiệu quả các lực lượng chính trị, quân sự, hậu cần và ngoại giao, tạo nên sức mạnh tổng hợp quyết định thắng lợi.

Chiến thắng Điện Biên Phủ cũng là biểu hiện sinh động của sức chiến đấu cao của Đảng. Trong suốt quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch, Đảng luôn giữ vững sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương và đề cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các tổ chức đảng trong quân đội và trên địa bàn chiến dịch thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạo, bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết, mệnh lệnh được quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, đi đầu trong chiến đấu, lao động và hy sinh, nêu cao ý chí, bản lĩnh và tinh thần cách mạng. Qua đó, không chỉ trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả tác chiến mà còn củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, tăng cường sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân.

Thực tiễn chiến thắng Điện Biên Phủ cho thấy, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức là điều kiện quyết định để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong mọi hoàn cảnh. Đây là bài học có ý nghĩa lịch sử sâu sắc, đồng thời, tiếp tục soi sáng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay, góp phần nâng cao năng lực cầm quyền, sức chiến đấu và uy tín của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

3. Ý nghĩa những bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh mới hiện nay

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa diễn ra thành công tốt đẹp, thể hiện trí tuệ, bản lĩnh và ý chí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy, tầm nhìn và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, mở ra niềm tin mới cho chặng đường phát triển phía trước. Đại hội XIV để lại dấu ấn sâu đậm bởi tinh thần kế thừa và phát triển, tiếp tục khẳng định những giá trị bền vững của cách mạng Việt Nam, đồng thời bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Trong bối cảnh đó, những bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng trong chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn tiếp tục soi sáng công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.

Một là, tiếp tục kiên định mục tiêu, chiến lược của Đảng trong tình hình mới.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống diễn biến phức tạp, nước ta đang đứng trước đan xen nhiều thời cơ và thách thức. Việc vận dụng bài học về kiên định mục tiêu chiến lược từ chiến thắng Điện Biên Phủ càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong điều kiện hiện nay. Sự kiên định mục tiêu của Đảng tiếp tục được thể hiện ở việc giữ vững con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia – dân tộc. Đây là yêu cầu có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng. Tuy nhiên, kiên định mục tiêu không đồng nghĩa với bảo thủ, trì trệ mà là sự kiên định có cơ sở khoa học, gắn với đổi mới tư duy, tổng kết thực tiễn, chủ động, linh hoạt trong phương thức và bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể. Thực tiễn bốn mươi năm đổi mới cho thấy, chính sự nhất quán về mục tiêu chiến lược đã giúp đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, từng bước ổn định, phát triển và hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Đây là minh chứng rõ nét cho giá trị bền vững của bài học kiên định mục tiêu trong lãnh đạo cách mạng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu kiên định mục tiêu chiến lược; đồng thời, nhấn mạnh tính chủ động, linh hoạt trong hoạch định và thực hiện sách lược phát triển phù hợp với thực tiễn. Những định hướng lớn được Đại hội XIV xác lập thể hiện sự kế thừa sáng tạo các bài học lịch sử từ chiến thắng Điện Biên Phủ; đồng thời, khẳng định quyết tâm chính trị trong việc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới. Trên cơ sở đó, việc kiên định mục tiêu chiến lược góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin xã hội, tăng cường sự đồng thuận trong nhân dân và định hướng phát triển lâu dài cho đất nước. Đây cũng là nền tảng để Đảng tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo, dẫn dắt đất nước vượt qua thách thức, tận dụng thời cơ, từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc trong thời kỳ mới.

Hai là, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin.

Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và trong chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng, việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước là nhân tố quan trọng làm nên sức sống bền vững và giá trị thực tiễn to lớn của học thuyết này. Những vấn đề lớn đặt ra trong quá trình phát triển, như: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh chuyển đổi số; bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, đều đòi hỏi cách tiếp cận biện chứng, toàn diện, lịch sử – cụ thể theo tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên cơ sở đó, việc kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ giúp Đảng nâng cao năng lực tư duy lý luận và năng lực tổng kết thực tiễn mà còn góp phần quan trọng trong việc hoạch định đường lối, chủ trương phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn. Đây là nhân tố quyết định bảo đảm cho Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo, định hướng đúng đắn quá trình phát triển, nâng cao chất lượng tăng trưởng và bảo đảm tính bền vững, phù hợp với xu thế vận động của thời đại.

Ba là, tiếp tục phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trải qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn nhất quán khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là chiến lược cơ bản, lâu dài và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”10. Đại hội XIII của Đảng (2021) tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”11.

Kế thừa và phát triển quan điểm đó, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định tư tưởng “lấy Nhân dân làm trung tâm”, coi Nhân dân vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đây là sự vận dụng sáng tạo bài học lịch sử về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện mới, phù hợp với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trước hết thể hiện ở việc củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước; tăng cường đồng thuận xã hội; đồng thời, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần trách nhiệm, khát vọng cống hiến vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc. Từ chiến thắng Điện Biên Phủ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, là nguồn sức mạnh to lớn, bền vững, giúp Việt Nam vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức và không ngừng phát triển trong mọi hoàn cảnh lịch sử.

Bốn là, giữ vững sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cơ bản, đất nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đan xen, như: tình trạng phân hóa giàu nghèo, quan liêu, tham nhũng, lãng phí; việc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; cùng với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp. Thực tiễn đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giữ vững sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng; đồng thời, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực dự báo và khả năng tổ chức thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.

Vận dụng bài học từ chiến thắng Điện Biên Phủ, trong giai đoạn hiện nay, Đảng cần tiếp tục kiên trì xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; gắn xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, phải không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực chuyên môn cao và tinh thần trách nhiệm trước Nhân dân. Chỉ khi giữ vững và không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín của mình, Đảng mới có thể thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử, lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới; qua đó xứng đáng với niềm tin, sự kỳ vọng và sự ủy thác của Nhân dân.

4. Kết luận

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; đồng thời, là minh chứng sinh động cho vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và sáng tạo của Đảng trong những thời điểm có ý nghĩa bước ngoặt của cách mạng. Từ thực tiễn lịch sử đó, nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về tư duy chiến lược, phương thức lãnh đạo và tổ chức thực tiễn đã được hình thành, trở thành nền tảng quan trọng cho quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.

Trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, những bài học từ chiến thắng Điện Biên Phủ tiếp tục được kế thừa, bổ sung và phát triển ở tầm cao mới, phù hợp với yêu cầu lãnh đạo đất nước trong điều kiện hòa bình, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển bền vững. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng tiếp tục hoàn thiện tư duy lý luận, nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách và hiệu quả tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Việc nghiên cứu, tổng kết và vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng từ chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ nhằm tri ân, phát huy giá trị lịch sử, mà quan trọng hơn là để soi sáng hiện tại và định hướng tương lai phát triển của đất nước. Trên cơ sở đó, Đảng tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, củng cố niềm tin của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, qua đó lãnh đạo đất nước vững bước trên con đường phát triển nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vì hạnh phúc của Nhân dân.

Chú thích:

1, 9. Navarre (2004). Hồi ký Navarre – Đông Dương hấp hối. H. NXB Công an nhân dân, tr. 216 – 217, 427.

2, 8. Võ Nguyên Giáp (2018). Tổng tập hồi ký. H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 946 – 947.

3. Bộ Chính trị (1996). Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp – Thắng lợi và bài học. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 193.

4. Võ Nguyên Giáp (2000). Điểm hẹn lịch sử. H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 66 – 372.

5. Võ Nguyên Giáp (1954). Kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân địch tại Điện Biên Phủ. Lời kêu gọi gửi cán bộ, chiến sĩ trong chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 3/1954.

6, 7. Hồ Chí Minh toàn tập (1995). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia. tr. 298.

10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 158.

11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 110 – 160.

12. Chiến thắng Điện Biên Phủ – Bài học về phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/05/07/chien-thang-dien-bien-phu-bai-hoc-ve-phat-huy-tinh-than-quyet-chien-quyet-thang/.

Nguồn: Chiến thắng Điện Biên Phủ – Bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng và ý nghĩa trong bối cảnh mới hiện nay

ThS. Lý Thị Hồng An - Học viện Chính trị khu vực IV
www.quanlynhanuoc.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin mới nhất

Lào Cai: Xã Bản Lầu: Chi bộ “4 tốt” góp phần xây dựng tổ chức đảng vững mạnh

Lào Cai: Xã Bản Lầu: Chi bộ “4 tốt” góp phần xây dựng tổ chức đảng vững mạnh
Mô hình “chi bộ 4 tốt” đang trở thành giải pháp hiệu quả quan trọng trong công tác xây dựng đảng ở các địa phương. Tại xã Bản Lầu, việc triển khai hiệu quả các tiêu chí “4 tốt” không chỉ góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ mà còn tạo chuyển biến rõ nét trong năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Qua đó, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Hình thành chuỗi liên kết quy mô lớn, nâng tầm phát triển OCOP

Hình thành chuỗi liên kết quy mô lớn, nâng tầm phát triển OCOP
Tỉnh Cao Bằng hướng tới đẩy mạnh phát triển OCOP thông qua chuỗi liên kết quy mô lớn, từ nguyên liệu đến thị trường. Sự liên kết này giúp nâng tầm sản phẩm, cải thiện năng suất, mở rộng kênh phân phối và đảm bảo lợi ích lâu dài cho cộng đồng sản xuất, đồng thời khẳng định thương hiệu địa phương.

Lâm Đồng rà soát các khu vực rừng trọng điểm có nguy cơ cháy cao

Lâm Đồng rà soát các khu vực rừng trọng điểm có nguy cơ cháy cao
Bước vào mùa khô năm 2026, công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng được các đơn vị chủ rừng và lực lượng chức năng triển khai quyết liệt. Trọng tâm là tăng cường tuần tra, kiểm soát tại các khu vực trọng điểm, nguy cơ cao xảy ra cháy rừng.

Hà Nội sẽ là thành phố toàn cầu, có trình độ phát triển cao, bền vững

Hà Nội sẽ là thành phố toàn cầu, có trình độ phát triển cao, bền vững
“Hà Nội sẽ trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi hội tụ tri thức và công nghệ; hạ tầng, quản trị đô thị hiện đại; người dân có chất lượng sống cao; xã hội văn minh, an toàn, đáng sống, hạnh phúc” - Mục tiêu này được nêu rõ tại Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị về "Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới".

Phú Thọ: Nỗ lực ổn định dân cư vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai

Phú Thọ: Nỗ lực ổn định dân cư vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai
Với mục tiêu bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản, tỉnh Phú Thọ tập trung nguồn lực để ổn định dân cư vùng thiên tai. Việc quy hoạch, bố trí lại nơi ở được thực hiện đồng bộ, gắn với phát triển kinh tế – xã hội, từng bước giảm thiểu rủi ro và nâng cao chất lượng đời sống người dân.