Chủ động giải pháp ứng phó nguy cơ thiếu hụt nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 9/2026, một số khu vực trên lưu vực sông Đồng Nai xuất hiện mưa lũ. Các hồ thủy điện lớn như Đồng Nai 2, Đăk R’Tih, Hàm Thuận, Trị An, Thác Mơ tích được 83-97% dung tích thiết kế; 48/71 hồ thủy lợi có dung tích từ 3 triệu m³ trở lên đã tích trên 70%.
Tuy nhiên, vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước do dòng chảy trên hầu hết các sông, suối trong lưu vực từ tháng 7-9/2026 thấp hơn trung bình nhiều năm 8,4-50%. Mùa mưa có khả năng kết thúc sớm; từ cuối tháng 10, mưa được dự báo giảm cả về lượng và diện, dòng chảy có xu hướng thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 15-30%. Trong khi nguồn nước có thể suy giảm nhanh, tổng nhu cầu sử dụng của lưu vực khoảng 11,4 tỷ m³/năm, tương đương 22% tổng lượng nước. Tỷ lệ nước dùng cho sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ khoảng 52%, cao nhất cả nước. Hiệu quả sử dụng nước đạt 8,19 USD GDP/m³, nhưng mức độ căng thẳng nguồn nước cũng cao, đặc biệt trong mùa cạn.
![]() |
| (Ảnh minh họa) |
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các đơn vị vận hành theo dõi diễn biến mưa, dòng chảy và dự báo khí tượng thủy văn để xây dựng kế hoạch tích nước hợp lý, vừa giảm lũ, bảo đảm an toàn công trình và hạ du, vừa hạn chế xả thừa. Đối với hồ đa mục tiêu, phải ưu tiên dung tích phục vụ sinh hoạt và nhu cầu thiết yếu trong suốt mùa cạn. Các hồ lớn có vai trò cấp nước hạ du như Trị An, Dầu Tiếng, Thác Mơ, Hàm Thuận, Đồng Nai 3, Đơn Dương, Đại Ninh và Sông Ray cần được chú trọng.
Việc vận hành phải gắn với nhu cầu từng khu vực. Hạ lưu sông Bé và lượng nước chuyển về Dầu Tiếng qua Phước Hòa cần phù hợp với chế độ vận hành Thác Mơ, Cần Đơn, Srôk Phu Miêng. Nhu cầu tại Cát Tiên - Tà Lài và bổ sung nước về Trị An phải được cân đối với các hồ Đăk R’Tih, Đồng Nai 2, Đồng Nai 3, Đồng Nai 5.
Tương tự, hệ thống thủy lợi Tà Pao cần điều chỉnh khai thác theo vận hành cụm Hàm Thuận - Đa Mi. Lâm Đồng và Khánh Hòa phải phối hợp với chủ hồ Đơn Dương, Đại Ninh để cân đối nước giữa khu vực nhận chuyển nước và hạ du, liên quan đến sông Cái - Phan Rang, sông Lũy.
Với Thác Mơ và Trị An, kế hoạch phát điện cần hài hòa yêu cầu an toàn hệ thống điện, tích nước và kiểm soát xâm nhập mặn. Hồ Trị An còn phải duy trì mực nước cần thiết để bảo đảm chất lượng nguồn nước phục vụ Nhà máy nước Gia Tân. Với Sông Ray, hồ giữ vai trò quan trọng đối với cấp nước phía Đông TP. HCM, cần xác định mực nước tối thiểu theo từng thời kỳ; điều chỉnh chuyển nước về Đá Đen, Đá Bàng, Xuyên Mộc, Suối Giàu và hạ lưu theo nhu cầu thực tế.
Các hồ thủy lợi phải rà soát khả năng tích trữ, ưu tiên dung tích cấp nước sinh hoạt. Với hồ tận dụng nước tưới để phát điện, cần kiểm soát lượng xả theo nhu cầu hạ du. Đồng thời, địa phương phải bảo đảm hành lang thoát lũ sông Ray, sông Sài Gòn, sông Đa Nhim và thượng lưu sông Đồng Nai. Cùng với tích trữ, các ngành, đơn vị sử dụng nước lớn cần rà soát định mức, kế hoạch; thực hiện tưới tiết kiệm, tưới luân phiên, giảm tổn thất kênh dẫn, tăng tuần hoàn và tái sử dụng nước trong công nghiệp, dịch vụ.
Đáng chú ý, các đơn vị vận hành không chờ đến khi thiếu nước mới tiết giảm. Căn cứ dự báo, địa phương phải xác định trước cấp độ tiết giảm và thứ tự phân bổ, ưu tiên sinh hoạt, nhu cầu thiết yếu, yêu cầu môi trường và an toàn hệ thống. Với kênh thuộc hệ thống Dầu Tiếng, Phước Hòa cần tính toán nhu cầu tưới, phối hợp điều tiết nước vào kênh Đông, Tây, Đức Hòa, Tân Hưng. Việc cấp nước phải sát nhu cầu, tránh thất thoát, dành nguồn dự trữ cho cao điểm nắng nóng và xâm nhập mặn.
Công trình khai thác nước hạ du cũng cần điều chỉnh hoạt động phù hợp với vận hành hồ thượng lưu. Khi có nguy cơ thiếu hụt, địa phương phải chuẩn bị chuyển đổi cây trồng, mùa vụ, cắt giảm diện tích canh tác, nhất là khu vực ngoài phạm vi cấp nước hoặc thuộc vùng tưới có nguy cơ hạn hán.
Đối với nguồn nước phục vụ sinh hoạt, cần rà soát phương án cấp nước an toàn theo kịch bản, chú trọng công trình lấy nước trực tiếp trên sông không có hồ điều tiết và công trình phụ thuộc hồ thượng lưu. Các đô thị lớn cần tăng kết nối hạ tầng, giảm thất thoát, chuẩn bị tích trữ và nguồn dự phòng. Nhà máy nước khai thác tại hạ lưu sông Sài Gòn, sông Đồng Nai phải phối hợp với hồ Dầu Tiếng, Trị An để hỗ trợ kiểm soát mặn. Ngành nông nghiệp và môi trường địa phương cần lập danh sách hồ có khả năng bổ sung nước sinh hoạt; phối hợp đánh giá, thổi rửa giếng khoan dự phòng để sẵn sàng sử dụng.
Các địa phương đồng thời chuẩn bị khai thác kết hợp hoặc luân phiên nước mặt, nước dưới đất; đánh giá khả năng tăng công suất công trình cấp nước để hỗ trợ khu vực thiếu hụt nghiêm trọng, ưu tiên sinh hoạt và cây trồng giá trị cao. Nguồn điện cho sản xuất nước sạch phải được bảo đảm. Bảo vệ chất lượng nước cũng là yêu cầu cấp thiết. Nguồn thải công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt cần được kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt quanh điểm lấy nước của các nhà máy lớn và hệ thống thủy lợi cấp nước sinh hoạt.
Với hồ Sông Ray, khoảng 70% diện tích lưu vực thuộc Đồng Nai, TP. HCM phải chủ trì phối hợp bảo vệ nguồn sinh thủy, hành lang nguồn nước, chia sẻ thông tin và ứng phó sự cố ô nhiễm. Các đơn vị quản lý, vận hành các hồ chứa thủy lợi trên địa bàn lắp đặt thiết bị quan trắc, tăng dự báo dòng chảy, ứng dụng công nghệ số trong vận hành thủy lợi; đôn đốc kê khai, đăng ký, cấp phép khai thác nước để nắm đầy đủ hiện trạng sử dụng…/.
Nguồn: Chủ động giải pháp ứng phó nguy cơ thiếu hụt nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Hà Nội thí điểm phủ xanh trụ cầu, hầm chui để tăng mảng xanh đô thị
Sông băng tại nhiều khu vực tan chảy nhanh
Nước biển nơi ghi nhận thủy sản chết ở Hà Tĩnh nằm trong giới hạn cho phép
Thái Nguyên: Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa Dao
Nhận định thị trường chứng khoán ngày 7/10: Có thể giải ngân từng phần tại vùng hỗ trợ
Đọc nhiều



