Giá nông sản hôm nay 20/4: Cà phê giảm sâu, hồ tiêu phục hồi nhẹ, lúa gạo đi ngang
| Giá nông sản hôm nay 19/4: Tiêu giữ đỉnh, cà phê giảm sâu, gạo xuất khẩu chạm mốc 500 USD/tấn |
Giá cà phê hôm nay
Giá cà phê trong nước hôm nay dao động quanh mức 84.500 – 85.200 đồng/kg, giảm 600 – 700 đồng/kg so với tuần trước và là tuần giảm thứ tư liên tiếp. Đây cũng là vùng giá thấp nhất trong gần một tháng qua, phản ánh áp lực điều chỉnh sau giai đoạn tăng nóng trước đó.
Tại Tây Nguyên, Đắk Nông vẫn giữ mức cao nhất 85.200 đồng/kg, trong khi Đắk Lắk và Gia Lai cùng lùi về quanh 85.000 đồng/kg. Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có giá thấp nhất, chỉ còn khoảng 84.500 đồng/kg. Đáng chú ý, giao dịch trên thị trường khá trầm lắng khi cả người bán lẫn doanh nghiệp đều giữ tâm lý thận trọng, chờ tín hiệu rõ ràng hơn từ thị trường quốc tế.
![]() |
Trên thị trường thế giới, diễn biến lại trái chiều. Giá robusta trên sàn London tăng nhẹ, với hợp đồng tháng 5/2026 đạt khoảng 3.388 USD/tấn, trong khi arabica trên sàn New York giảm mạnh xuống quanh 289 US cent/pound. Sự phân hóa này cho thấy robusta vẫn được hỗ trợ bởi tồn kho thấp và nhu cầu ổn định, còn arabica chịu áp lực từ kỳ vọng nguồn cung tăng mạnh.
Triển vọng sản lượng cà phê toàn cầu, đặc biệt tại Brazil, đang là yếu tố gây sức ép lên giá. Dự báo niên vụ 2026–2027 có thể đạt tới 75,65 triệu bao, tăng 17% so với vụ trước, trong đó arabica tăng mạnh. Điều này khiến thị trường nội địa dù không dư cung vẫn chịu ảnh hưởng từ tâm lý chờ đợi và lo ngại giá còn điều chỉnh.
Giá tiêu hôm nay
Trái ngược với cà phê, giá hồ tiêu trong nước đang cho thấy dấu hiệu phục hồi. Giá tiêu hôm nay dao động trong khoảng 139.000 – 141.000 đồng/kg, gần như đi ngang so với phiên trước nhưng tính chung cả tuần vẫn tăng từ 1.000 – 2.000 đồng/kg.
Đắk Lắk và Đắk Nông tiếp tục dẫn đầu với mức 141.000 đồng/kg, trong khi Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai duy trì quanh 140.000 đồng/kg. Gia Lai là địa phương duy nhất giảm nhẹ trong phiên gần nhất, xuống còn 139.500 đồng/kg.
![]() |
Diễn biến này phản ánh nguồn cung sau vụ thu hoạch đang dần thu hẹp, trong khi lực cầu bắt đầu quay trở lại. Tuy nhiên, trên thị trường thế giới, giá tiêu lại chịu áp lực giảm.
Cụ thể, giá tiêu đen Indonesia giảm khoảng 0,44% trong tuần, xuống còn 7.043 USD/tấn. Đây là mức giảm đáng chú ý trong bối cảnh nguồn cung nội địa quốc gia này vẫn còn hạn chế.
Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 giảm mạnh hơn, tới 2,44%, tương đương 150 USD/tấn, xuống còn 6.000 USD/tấn. Diễn biến này cho thấy áp lực bán ra gia tăng từ khu vực Nam Mỹ. Trong khi đó, Malaysia tiếp tục giữ giá ổn định ở mức 9.300 USD/tấn, không ghi nhận biến động mới.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn duy trì trong khoảng 6.100 – 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l, cho thấy sự ổn định tương đối so với thị trường quốc tế.
Ở phân khúc tiêu trắng, Indonesia cũng ghi nhận mức giảm nhẹ, xuống còn 9.279 USD/tấn. Trong khi đó, Việt Nam và Malaysia vẫn giữ nguyên mức giá lần lượt là 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
Theo số liệu từ ITC, xuất khẩu hồ tiêu Indonesia suy giảm mạnh trong những tháng đầu năm, cho thấy sự điều chỉnh cung – cầu mang tính dài hạn. Điều này tạo ra trạng thái “lệch pha” giữa thị trường nội địa và quốc tế. Trong ngắn hạn, giá tiêu Việt Nam có thể tiếp tục duy trì xu hướng đi ngang hoặc tăng nhẹ nếu lực cầu xuất khẩu cải thiện.
Giá lúa gạo hôm nay
Đối với mặt hàng lúa gạo, thị trường Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay ghi nhận trạng thái ổn định, giá ít biến động nhưng giao dịch còn chậm.
Cụ thể, giá lúa tươi OM 18 dao động 6.000 – 6.200 đồng/kg, lúa Đài Thơm 8 ở mức 6.000 – 6.100 đồng/kg, lúa OM 5451 khoảng 5.800 – 5.900 đồng/kg, trong khi IR 50404 ở mức 5.500 – 5.600 đồng/kg. Lúa OM 34 tiếp tục duy trì vùng thấp hơn, khoảng 5.100 – 5.200 đồng/kg.
Ở mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động 8.000 – 8.050 đồng/kg, gạo OM 18 ở mức 8.700 – 8.900 đồng/kg, gạo CL 555 khoảng 8.100 – 8.200 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 giữ mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
Tại các chợ lẻ, giá gạo bình giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam vẫn duy trì ở mức tương đối cao, với gạo 5% tấm dao động 490 – 500 USD/tấn, gạo Jasmine khoảng 465 – 469 USD/tấn. Dữ liệu 3 tháng đầu năm 2026 cho thấy xuất khẩu gạo đạt 2,3 triệu tấn, tăng nhẹ về lượng nhưng giảm gần 8% về giá trị.
Trên thị trường thế giới, tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 386 - 390 USD/tấn, gạo 100% tấm đạt 364 - 368 USD/tấn. Tại Ấn Độ thị trường đi ngang, gạo 5% tấm được chào bán dao động 342 - 346 USD/tấn; gạo 100% tấm ở mức 283 - 287 USD/tấn.
Thị trường lúa gạo toàn cầu tiếp tục chịu tác động từ nhiều yếu tố bất định như xung đột địa chính trị, giá năng lượng neo cao và chi phí logistics chưa giảm. Những yếu tố này gây áp lực lên cán cân cung - cầu, đồng thời khiến giao dịch quốc tế diễn ra thận trọng hơn.
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 20/4: Cà phê giảm sâu, hồ tiêu phục hồi nhẹ, lúa gạo đi ngang
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Lào Cai: Giữ hồn then - khắp cọi trong trường học Mường Lai
Nhận định thị trường chứng khoán ngày 20/4: Hạn chế mở thêm vị thế mua mới
Giá vàng hôm nay 20/4: SJC giảm nhẹ đầu tuần
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 20/4: Đồng USD sẽ giữ đà giảm?
Giá xăng dầu hôm nay 20/4: Giá dầu thế giới giảm sâu, thị trường đối mặt biến động khó lường
Đọc nhiều



