Giá nông sản hôm nay 24/8: Cà phê tăng mạnh, tiêu đi ngang, lúa gạo trầm lắng
Giá cà phê hôm nay
Tại khu vực Tây Nguyên, giá cà phê hôm nay tiếp tục duy trì trên 95.000 đồng/kg. So với cuối tuần trước, giá thu mua tăng 1.500-1.600 đồng/kg, lên khoảng 95.700-96.500 đồng/kg.
Đắk Nông ghi nhận mức giá cao nhất, đạt 96.500 đồng/kg, tăng 1.600 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng tăng 1.500 đồng/kg, lên 96.200 đồng/kg. Lâm Đồng cũng tăng 1.500 đồng/kg, đạt 95.700 đồng/kg và là mức thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.

Theo ghi nhận tại Tây Nguyên, nông dân đang bán cà phê nhân quanh mức 95.700-96.200 đồng/kg, cao hơn khoảng 94.200-94.900 đồng/kg của tuần trước. Một thương nhân tại vùng trồng cho biết hoạt động mua bán thường chậm lại vào cuối niên vụ do nguồn hàng trong dân không còn nhiều, trong khi nhu cầu mua vào của doanh nghiệp chưa đủ mạnh để tạo thanh khoản cao.
Đối với niên vụ mới, giới kinh doanh vẫn thận trọng trong đánh giá chất lượng do còn khá sớm. Tuy vậy, điều kiện tại các vùng trồng nhìn chung thuận lợi, quả cà phê phát triển tương đối tốt.
Trên thị trường giao xa, một thương nhân chào mua cà phê giao tháng 12 ở mức khoảng 91.000 đồng/kg, trong khi một đơn vị khác đưa ra mức 93.500-94.000 đồng/kg. Chênh lệch giữa giá giao ngay và giá giao xa phần nào phản ánh kỳ vọng nguồn cung sẽ tăng khi niên vụ mới bước vào thu hoạch.
Trên thị trường quốc tế, diễn biến giữa robusta và arabica tiếp tục trái chiều. Tại sàn London, robusta hợp đồng tháng 9/2026 chốt tuần ở mức 3.598 USD/tấn, giảm 23 USD/tấn, tương đương 0,6% so với tuần trước. Ngược lại, hợp đồng tháng 11/2026 tăng 24 USD/tấn, tương đương 0,7%, lên 3.618 USD/tấn.
Tại New York, arabica có diễn biến tích cực hơn. Hợp đồng tháng 9/2026 tăng 20,7 US cent/pound, tương đương 6,1%, lên 358,75 US cent/pound. Hợp đồng tháng 12/2026 tăng 8,3 US cent/pound, tương đương 2,7%, lên 322,65 US cent/pound.
Tại Indonesia, mức cộng giá đối với robusta Sumatra tiếp tục tăng. Một thương nhân chào mức cộng 250 USD/tấn so với hợp đồng tháng 11, cao hơn mức cộng 160 USD/tấn của tuần trước. Một đơn vị khác chào mức cộng 175 USD/tấn so với hợp đồng tháng 9, tăng mạnh từ mức 85 USD/tấn một tuần trước. Trong khi đó, nông dân tại Lampung cho biết thời tiết trong tuần nhìn chung thuận lợi cho quá trình phát triển quả cà phê của niên vụ tiếp theo.
Nguồn cung từ Brazil tiếp tục là yếu tố đáng chú ý đối với triển vọng giá. Theo Hedgepoint Global Markets, sản lượng cà phê Brazil niên vụ 2026-2027 có thể đạt 75,8 triệu bao loại 60 kg, mức cao kỷ lục. Dự báo này được đưa ra dù những trận mưa mùa đông bất thường từng làm chậm tiến độ thu hoạch và ảnh hưởng đến chất lượng cà phê tại một số khu vực.
Hedgepoint vẫn duy trì dự báo sản lượng do kết quả thực tế đến nay cơ bản phù hợp với kỳ vọng. Arabica được dự báo đạt 50,2 triệu bao, tăng mạnh so với 37,7 triệu bao của niên vụ trước nhưng vẫn thấp hơn kỷ lục 54,2 triệu bao của niên vụ 2020-2021. Trong khi đó, sản lượng canephora, gồm robusta và conilon, dự kiến đạt 25,6 triệu bao, giảm từ 27 triệu bao của niên vụ trước.
Nguồn cung lớn từ Brazil có thể tạo sức ép lên giá cà phê trong những tháng tới nếu tiến độ thu hoạch được đẩy nhanh và lượng hàng xuất khẩu gia tăng. Tại Việt Nam, nguồn cung cuối vụ hạn chế vẫn đang hỗ trợ giá, song khi niên vụ mới bước vào thu hoạch, diễn biến sản lượng tại Việt Nam, Brazil và các nước sản xuất chủ chốt sẽ có vai trò lớn hơn.
Giá tiêu tiếp tục đi ngang
Giá tiêu hôm nay tại các vùng trồng trọng điểm duy trì trong khoảng 136.000-139.000 đồng/kg, gần như không thay đổi so với tuần trước.
Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, ghi nhận mức giá cao nhất 139.000 đồng/kg, chỉ thấp hơn 1.000 đồng/kg so với mốc 140.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng tiếp theo với 138.000 đồng/kg. Tại Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, giá tiêu cùng ở mức khoảng 136.000 đồng/kg.
![]() |
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu tại các nguồn cung lớn cũng ít thay đổi. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia ở mức 6.851 USD/tấn; tiêu đen Brazil ASTA 570 đạt 5.900 USD/tấn và Malaysia ở mức 9.300 USD/tấn.
Tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động 5.990-6.050 USD/tấn. Với tiêu trắng, Muntok của Indonesia được báo giá 9.380 USD/tấn, tiêu trắng Việt Nam ở mức 8.400 USD/tấn, còn Malaysia ở mức cao hơn, khoảng 12.200 USD/tấn.
Đáng chú ý, nhu cầu nhập khẩu của Ấn Độ vẫn thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Theo số liệu của Trung tâm Thương mại Quốc tế được Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam dẫn lại, tháng 6/2026, Ấn Độ nhập khẩu 3.165 tấn hồ tiêu, trị giá khoảng 22,4 triệu USD. So với tháng 5, lượng nhập khẩu tăng 34,8% và kim ngạch tăng 45,5%, nhưng vẫn giảm 9,3% về lượng so với tháng 6/2025.
Đây là khối lượng nhập khẩu theo tháng cao nhất của Ấn Độ trong nửa đầu năm, cho thấy nhu cầu đã có dấu hiệu phục hồi sau khi lượng nhập khẩu tháng 5 chỉ đạt 2.348 tấn.
Việt Nam tiếp tục là nguồn cung lớn nhất cho thị trường Ấn Độ trong tháng 6, với 1.244 tấn, chiếm 39,3% tổng lượng nhập khẩu. Lượng tiêu từ Việt Nam giảm 3,8% so với tháng trước nhưng tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2025. Sri Lanka đứng thứ hai với 943 tấn, chiếm 29,8%; Brazil cung cấp 639 tấn và Indonesia 250 tấn.
Tính chung 6 tháng đầu năm, Ấn Độ nhập khẩu 13.062 tấn hồ tiêu, trị giá khoảng 90,4 triệu USD, giảm 39,5% về lượng và 40,8% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Việt Nam vẫn đứng đầu với 5.189 tấn, chiếm 39,7% tổng lượng nhập khẩu của Ấn Độ, dù lượng xuất khẩu sang thị trường này giảm 24,1% so với cùng kỳ. Sri Lanka đạt 4.036 tấn, chiếm 30,9%; Indonesia 1.610 tấn và Brazil 1.561 tấn.
Ở chiều xuất khẩu, tháng 6/2026, Ấn Độ xuất khẩu 1.512 tấn hồ tiêu, thu về khoảng 10,9 triệu USD, giảm 14,9% về lượng và 11,9% về giá trị so với tháng 5, đồng thời giảm 5,2% về lượng so với cùng kỳ năm trước.
Mỹ tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất của Ấn Độ với 755 tấn, chiếm gần một nửa lượng xuất khẩu trong tháng. Lượng tiêu xuất sang Mỹ tăng 7,4% so với tháng trước và tăng 7,2% so với cùng kỳ. Ngược lại, xuất khẩu sang Nga giảm xuống 77 tấn, Anh đạt 109 tấn.
Lũy kế 6 tháng, Ấn Độ xuất khẩu 9.680 tấn hồ tiêu, trị giá khoảng 67,3 triệu USD, giảm 5,9% về lượng và 6,4% về giá trị. Mỹ tiếp tục là thị trường lớn nhất với 3.849 tấn, tương đương 39,8% tổng lượng xuất khẩu, dù giảm 10,4% so với cùng kỳ. Nga đứng thứ hai với 696 tấn, trong khi Anh là điểm sáng khi nhập khẩu 651 tấn, tăng 10,9%.
Giá lúa gạo trầm lắng
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo sáng 24/8 tương đối trầm lắng, giao dịch mua bán khá vắng.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi IR 50404 được thu mua 6.300-6.400 đồng/kg; OM 34 ở mức 6.000-6.200 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 6.800-7.000 đồng/kg; OM 18 ở mức 6.900-7.100 đồng/kg; OM 5451 ở mức 6.600-6.700 đồng/kg.
Nguồn lúa tại nhiều địa phương không còn dồi dào nên hoạt động mua bán diễn ra chậm. Tại Vĩnh Long, lượng lúa còn ít khiến giá có biến động. Trong khi đó, thị trường tại An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh giao dịch cầm chừng, giá một số loại lúa tăng nhẹ.
Ở phân khúc gạo nguyên liệu xuất khẩu, IR 504 dao động 9.450-9.550 đồng/kg; CL 555 ở mức 9.500-9.550 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.300-9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200-9.400 đồng/kg. Gạo OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500-7.600 đồng/kg.
Giá phụ phẩm nằm trong khoảng 7.350-8.800 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm ở mức 8.700-8.800 đồng/kg, còn cám dao động 7.350-7.550 đồng/kg.
![]() |
Tại các chợ lẻ, giá gạo đứng giá so với cuối tuần. Gạo Nàng Nhen có giá cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; thơm Thái hạt dài 20.000-22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; Jasmine 16.500-17.000 đồng/kg; Đài thơm 15.000-16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 13.500-14.500 đồng/kg; Sóc thường 14.000-15.000 đồng/kg; Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM 18 ở mức 15.000-16.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định. Nếp IR 4625 tươi có giá 7.300-7.500 đồng/kg, trong khi nếp 3 tháng khô ở mức 9.600-9.700 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giữ ổn định so với cuối tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán 500-505 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 370-374 USD/tấn và gạo Jasmine đạt 538-542 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 450-454 USD/tấn, gạo 100% tấm 374-378 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm ở mức 360-364 USD/tấn, còn gạo 100% tấm dao động 292-296 USD/tấn.
Trong 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 5,5 triệu tấn gạo, thu về 2,64 tỷ USD, tăng 0,5% về lượng nhưng giảm 6,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực của gạo Việt Nam. Philippines giữ vị trí thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 44,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trung Quốc đứng thứ hai với 19,1%, tiếp đến là Ghana với 9,6%.
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 24/8: Cà phê tăng mạnh, tiêu đi ngang, lúa gạo trầm lắng
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
EU siết chặt quản lý về bao bì
Lạng Sơn: Sơ tán khẩn cấp hơn 2 nghìn hộ dân khỏi vùng nguy hiểm do bão số 4
VAR công nhận bàn phút 90+1, Man City thoát hiểm ngoạn mục
Vì sao dầu khí châu Á - Thái Bình Dương ít chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng Hormuz?
Nhận định thị trường chứng khoán ngày 24/8: Tăng tỷ trọng các mã đang có lợi nhuận
Đọc nhiều





