Giá nông sản hôm nay 5/10: Cà phê, tiêu tăng nhẹ, lúa gạo ổn định
| Giá nông sản hôm nay 4/10: Tiêu đi ngang, cà phê tăng, lúa gạo biến động |
Giá cà phê Tây Nguyên lên 94.000 đồng/kg
Khép lại tuần giao dịch, giá cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên dao động từ 93.400 - 94.000 đồng/kg, tăng 200 - 400 đồng/kg so với cuối tuần trước.
Tại Lâm Đồng, giá cà phê tăng 400 đồng/kg, lên 93.400 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng tăng 400 đồng/kg, lên 94.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đắk Nông tăng 200 đồng/kg, lên 94.000 đồng/kg.
Như vậy, mức giá cao nhất tại khu vực Tây Nguyên hiện là 94.000 đồng/kg, thấp nhất 93.400 đồng/kg, chênh lệch giữa các địa phương khoảng 600 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá cà phê cũng tăng trong tuần qua. Trên sàn London, robusta giao tháng 11/2026 tăng 102 USD/tấn, tương đương 3%, lên 3.469 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 tăng 106 USD/tấn, tương đương 3,2%, lên 3.448 USD/tấn.
Tại New York, arabica giao tháng 3/2027 tăng 9,3 US cent/pound, tương đương 3,4%, lên 280,5 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 5/2027 tăng 3,3%, lên 277,8 US cent/pound.
Trong nước, nguồn cung cà phê vụ cũ đang gần cạn, trong khi cà phê vụ mới chưa được đưa ra thị trường với khối lượng lớn. Việt Nam đã bước vào niên vụ mới từ đầu tháng 10, nhưng các thương nhân cho rằng phải đến đầu tháng 11, nguồn hàng mới có thể được đưa ra thị trường với khối lượng đáng kể.
Theo số liệu của Cục Thống kê, 9 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,45 triệu tấn cà phê, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước, trong khi kim ngạch đạt khoảng 6,6 tỷ USD, giảm 7%. Riêng tháng 9, xuất khẩu khoảng 124.000 tấn, tăng 53% so với cùng kỳ năm 2025.
Giá tiêu tăng lên 140.500 đồng/kg
Giá tiêu trong nước khép lại tuần giao dịch với mức tăng 500 đồng/kg so với cuối tuần trước, đưa mặt bằng giá tại các vùng trồng trọng điểm lên 136.500 - 140.500 đồng/kg.
Đắk Nông thuộc tỉnh Lâm Đồng tiếp tục ghi nhận mức giá cao nhất, đạt 140.500 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ở mức 138.500 đồng/kg. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc TP Hồ Chí Minh, giá tiêu đạt 137.000 đồng/kg.
Gia Lai và Đồng Nai cùng ghi nhận mức 136.500 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát. Chênh lệch giá giữa các vùng trồng hiện khoảng 4.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá tiêu có diễn biến phân hóa. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Brazil giảm 50 USD/tấn, xuống 5.800 USD/tấn; tiêu đen Malaysia giảm 50 USD/tấn, xuống khoảng 9.200 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu đen Indonesia giữ ổn định ở mức 6.828 USD/tấn.
Tại Việt Nam, tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l được chào bán ở mức 5.970 USD/tấn, loại 550 g/l ở mức 6.075 USD/tấn. Tiêu trắng Malaysia giảm 50 USD/tấn, xuống 12.100 USD/tấn; tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ ở mức 9.348 USD/tấn và tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam duy trì 8.450 USD/tấn.
Theo Cục Xuất nhập khẩu, trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 131.200 tấn tiêu đen, thu về 842,8 triệu USD, tăng 15,2% về lượng và 13% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Tiêu đen chiếm 68,5% tổng lượng và 68,6% tổng trị giá xuất khẩu hồ tiêu.
Giá lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ổn định
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo sáng 5/10 ít biến động, giao dịch mua bán vắng. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động 6.100 - 6.300 đồng/kg; OM 5451 ở mức 6.000 - 6.100 đồng/kg; OM 34 ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg; IR 50404 ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg.
Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 ở mức 8.750 - 8.850 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo đứng giá. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam không thay đổi so với cuối tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 100% tấm ở mức 371 - 375 USD/tấn; Jasmine 515 - 519 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm 440 - 445 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 455 - 459 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 381 - 385 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm ở mức 382 - 386 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm tăng 3 USD, lên 326 - 330 USD/tấn.
Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương, tháng 9/2026 Việt Nam xuất khẩu 377,4 nghìn tấn gạo, trị giá 205,6 triệu USD. Lũy kế 9 tháng đạt 6,4 triệu tấn, trị giá 3,11 tỷ USD, giảm 6,1% về lượng và 10,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Giá gạo xuất khẩu bình quân 9 tháng đạt 484,8 USD/tấn, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực, trong đó Philippines là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 40,9% thị phần. Trung Quốc và Ghana lần lượt chiếm 17,4% và 12,7%.
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 5/10: Cà phê, tiêu tăng nhẹ, lúa gạo ổn định
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Tử vi vòng quay công nghệ ngày 6/10/2026: Tuổi Mão tài lộc khởi sắc, tuổi Ngọ nên tránh quyết định vội vàng
Hoàn thiện hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế biển
Thái Nguyên: Gần 3.000 đơn hàng được chốt tại Phiên chợ nông sản
Kiểm soát nguồn thải trong chế biến nông sản
Hà Nội liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Du lịch Thế giới 2026


