Hà Nội: 23°C
Thừa Thiên Huế: 24°C
Hải Phòng: 24°C
Quảng Ninh: 22°C
TP Hồ Chí Minh: 24°C

Sinh kế bền vững từ nuôi trồng thủy sản lòng hồ thủy điện

Khai thác lợi thế diện tích mặt nước lòng hồ thủy điện Sơn La, từ những lồng cá nhỏ lẻ ban đầu, người dân vùng lòng hồ đã từng bước thay đổi tư duy, cách làm, đưa nghề nuôi cá lồng thành sinh kế bền vững, hiệu quả kinh tế cao.

Sở hữu hàng trăm nghìn héc-ta mặt nước của các hồ thủy điện, thủy lợi lớn, khu vực phía Bắc được đánh giá là vùng giàu tiềm năng phát triển thủy sản hồ chứa. Khu vực này tập trung phần lớn các hồ chứa quy mô lớn như Hòa Bình, Sơn La, Thác Bà, Na Hang, Lai Châu… Đáng chú ý, các hồ có diện tích trên 5.000 ha chiếm tỷ trọng đáng kể, tạo thành những vùng mặt nước liên hoàn - một lợi thế hiếm có để phát triển nuôi trồng thủy sản quy mô lớn. Không chỉ mở rộng về quy mô, năng suất nuôi cũng đang dần tiệm cận các mô hình thâm canh.

Tỉnh Sơn La có gần 4.000 km² mặt nước hồ thủy điện, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản và các sinh kế gắn với vùng lòng hồ. Toàn tỉnh hiện có 2.907 ha nuôi trồng thủy sản, 7.091 lồng nuôi cá; hình thành 15 chuỗi cung ứng thủy sản an toàn với trên 2.000 lồng nuôi. Nhiều sản phẩm cá sông Đà được chứng nhận OCOP, từng bước xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Nghề nuôi cá lồng đang từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang tổ chức sản xuất, gắn với xây dựng thương hiệu và liên kết tiêu thụ.

Sinh kế bền vững từ nuôi trồng thủy sản lòng hồ thủy điện
Các địa phương khai thác hiệu quả lợi thế phát triển kinh tế bền vững từ nuôi thủy sản lòng hồ.

Những năm qua, xã Mường La đẩy mạnh phát triển nghề nuôi cá lồng, khuyến khích các hộ liên kết thành lập hợp tác xã, chú trọng kỹ thuật, chất lượng và tìm kiếm thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản. Trên vùng lòng hồ bản Mường Trai, những dãy lồng cá nối nhau trên mặt nước.

Gia đình ông Lò Văn Dũng là một trong những hộ gắn bó lâu năm với nghề nuôi cá lồng. Năm 2012, gia đình ông bắt đầu với 3 lồng cá. Vừa nuôi, vừa học hỏi kinh nghiệm chăm sóc, phòng bệnh, lựa chọn giống phù hợp, ông từng bước mở rộng quy mô. Đến nay, gia đình có 15 lồng, chủ yếu nuôi cá trắm, rô phi, cá lăng. Trong quá trình nuôi, gia đình thường xuyên vệ sinh lồng, theo dõi sức ăn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp, vừa hạn chế lãng phí, vừa giữ nguồn nước sạch. Mỗi năm gia đình xuất bán khoảng 5 tấn cá thương phẩm, sau khi trừ chi phí thu lãi hơn 200 triệu đồng.

Từ sản xuất nhỏ lẻ, nhiều hộ nuôi cá lồng tại Mường La còn liên kết thành lập hợp tác xã, để thống nhất quy trình chăm sóc, tìm kiếm thị trường, tiêu thụ sản phẩm. Theo đại diện HTX Nuôi trồng thủy sản và Du lịch Mường La, HTX được thành lập cuối năm 2025, gồm 6 thành viên, nuôi 200 lồng cá, chủ yếu nuôi cá tầm, cá chạch và các loài cá đặc sản. Các thành viên chú trọng vệ sinh lồng bè, quản lý lượng thức ăn, theo dõi chất lượng nước và phòng bệnh cho cá. HTX đang hướng tới liên kết với các đầu mối thu mua để chuẩn bị đầu ra, từng bước ổn định sản xuất, nâng cao thu nhập cho thành viên.

Quỳnh Nhai từ lâu đã được biết đến là vùng nuôi cá lồng lớn nhất của tỉnh. Trên mặt hồ mênh mông, hơn 2.800 lồng cá được đầu tư kiên cố, bài bản của 24 HTX và hàng trăm hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ. Sản lượng thủy sản nuôi và đánh bắt tự nhiên hằng năm của xã đạt trên 1.000 tấn, trong đó, sản lượng từ các lồng nuôi chiếm ưu thế tuyệt đối với trên 750 tấn.

Hơn 10 năm thành lập và duy trì hoạt động, HTX thủy sản Hồ Quỳnh là một trong những đơn vị nuôi thủy sản lớn nhất tại Quỳnh Nhai với 200 lồng nuôi các loại cá đặc sản, như: cá lăng, cá chép, rô phi, sản lượng đạt trên 300 tấn/năm. HTX có 17 thành viên, chủ yếu xuất bán cá tươi thương phẩm cho khách hàng tại thị trường Hà Nội và một số tỉnh lân cận. Trong đó, cá lăng là sản phẩm chính của HTX, được đầu tư quy trình chăm sóc bài bản, đảm bảo chất lượng cá chắc thịt, thơm ngon. HTX đang thử nghiệm để phát triển thêm các loại cá đặc sản khác như cá lăng chấm, cá chiên, cá tầm để đa dạng sản phẩm của HTX.

Sinh kế bền vững từ nuôi trồng thủy sản lòng hồ thủy điện
Các địa phương thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản lòng hồ.

Không chỉ Quỳnh Nhai, Mường La, các xã thuộc khu vực lòng hồ thủy điện Sơn La cũng tích cực phát triển nghề nuôi cá lồng. Trong đó, phải kể đến các xã: Mường Sại, đang duy trì hơn 40 ha mặt nước nuôi thủy sản, trên 490 lồng nuôi cá, sản lượng đạt trên 360 tấn mỗi năm; Mường Giôn, nhiều năm nay duy trì 45 ha mặt nước lòng hồ nuôi thủy sản với gần 400 lồng cá; xã Mường Chiên duy trì trên 100 lồng nuôi cá, sản lượng cá nuôi hằng năm đạt trên 240 tấn cùng hơn 120 tấn thủy sản đánh bắt trên lòng hồ...

Từ lợi thế mặt nước, nghề nuôi cá lồng đang mở thêm sinh kế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Khi sản xuất được tổ chức chặt chẽ hơn, kỹ thuật được áp dụng vào từng khâu, người dân cùng tham gia bảo vệ nguồn nước và cơ quan chuyên môn đồng hành trong sản xuất, nghề nuôi cá lồng có thêm điều kiện phát triển ổn định, lâu dài, tạo giá trị bền vững cho vùng lòng hồ.

Trước đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt sản lượng hơn 260.000 tấn mỗi năm, với tổng giá trị khoảng 16.000 tỷ đồng. Trong đó, nuôi lồng bè chiếm hơn 190.000 tấn, nuôi thả trực tiếp hơn 70.000 tấn.

Đề án cũng hướng tới tạo việc làm cho hơn 80.000 lao động, nâng thu nhập từ nuôi trồng thủy sản hồ chứa tăng trên 50% so với năm 2025. Đáng chú ý, trên 30% lao động tham gia là đồng bào dân tộc thiểu số. Song song với đó, hơn 50% cơ sở nuôi thuỷ sản hồ chứa sẽ tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc chuỗi liên kết; 100% cơ sở cập nhật thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản. Một phần cơ sở nuôi lồng bè sẽ áp dụng quy trình thực hành tốt (VietGAP hoặc tương đương), sử dụng vật liệu thân thiện môi trường.

Đề án xác định phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa theo hướng hiệu quả, bền vững và hài hòa với các mục tiêu sử dụng nước khác như thủy lợi, thủy điện và bảo vệ môi trường. Việc khai thác mặt nước sẽ gắn với ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái./.

Nguồn:Sinh kế bền vững từ nuôi trồng thủy sản lòng hồ thủy điện

Thu Hà
thiennhienmoitruong.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin mới nhất

Thái Nguyên: Từ thương hiệu đến sản phẩm số

Thái Nguyên: Từ thương hiệu đến sản phẩm số
Được mệnh danh là “đệ nhất danh trà”, Thái Nguyên nổi tiếng với những vùng chè đặc sản như Tân Cương, Trại Cài, La Bằng, Khe Cốc… Cây chè không chỉ tạo sinh kế cho người dân mà còn góp phần làm nên thương hiệu đặc trưng của tỉnh. Trong bối cảnh thị trường ngày càng rộng mở, người làm chè Thái Nguyên đang chủ động ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh, nâng cao giá trị sản phẩm, minh bạch nguồn gốc và đưa thương hiệu chè vươn xa.

Giá dầu diesel giảm gần 600 đồng/lít

Giá dầu diesel giảm gần 600 đồng/lít
Chiều 8/10, Liên Bộ Công Thương – Tài chính thông báo về việc điều chỉnh giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu, áp dụng từ 15h cùng ngày.

ArrowLinx: giải pháp truyền dữ liệu một chiều bằng phần cứng cho mạng OT

ArrowLinx: giải pháp truyền dữ liệu một chiều bằng phần cứng cho mạng OT
Nhà máy ngày nay không thể vận hành tách biệt hoàn toàn với bên ngoài. Số liệu sản xuất phải được đưa lên MES và ERP, nhật ký thiết bị phải về trung tâm giám sát an ninh, dữ liệu cảm biến phải lên nền tảng phân tích trên đám mây.

Điều tiết hợp lý nguồn nước ứng phó nguy cơ khô hạn

Điều tiết hợp lý nguồn nước ứng phó nguy cơ khô hạn
Trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nước do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino trong mùa khô năm 2026-2027, các địa phương, đơn vị khai thác công trình thủy lợi cần chủ động phương án phòng, chống hạn hán, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh.

‘Lợi ích kép’ từ giảm phát thải khí metan

‘Lợi ích kép’ từ giảm phát thải khí metan
Để chính sách giảm phát thải đi vào cuộc sống cần sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý nhà nước, địa phương, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, tổ chức xã hội, cộng đồng và người dân.