Xuất khẩu nông sản: Tăng kim ngạch, phải tăng giá trị
Tăng trưởng không còn nằm ở sản lượng
Chín tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu đạt gần 17 tỷ USD, tăng 7,4%. Đây vẫn là một trong những khu vực đóng góp quan trọng cho cán cân thương mại và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu vào từng nhóm hàng, bức tranh xuất khẩu nông sản còn là bài toán giá trị.
Trong 9 tháng, nhóm nông sản đạt hơn 29 tỷ USD, tăng 3,1%; thủy sản đạt hơn 9 tỷ USD, tăng 12,3%; lâm sản đạt gần 15 tỷ USD, tăng 7,6%; sản phẩm chăn nuôi đạt hơn 564 triệu USD, tăng tới 24,6%. Sự tăng trưởng vì vậy được tạo nên bởi những ngành hàng có diễn biến giá và nhu cầu rất khác nhau. Điều đó cho thấy sự phân hóa lớn giữa lượng hàng xuất khẩu và giá trị thu về.
Riêng cà phê, chín tháng, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,4 triệu tấn, tăng 15,4% về lượng, nhưng kim ngạch chỉ đạt 6,54 tỷ USD, giảm 7,3%. Gạo cũng chịu áp lực khi lượng xuất khẩu giảm 6,1%, còn 6,4 triệu tấn, nhưng giá trị giảm tới 10,9%, xuống 3,11 tỷ USD. Cao su giảm 16,2% về lượng và 4,4% về giá trị.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Ở chiều ngược lại, một số mặt hàng cho thấy khả năng cải thiện giá trị tốt hơn. Chín tháng, hạt điều xuất khẩu giảm 2% về lượng nhưng tăng 2% về giá trị, trong khi hồ tiêu tăng 15% về lượng và 10,2% về giá trị. Điều đó cho thấy không phải cứ tăng lượng hàng bán ra là kim ngạch sẽ tăng tương ứng; chất lượng, giá bán, cơ cấu sản phẩm và thị trường quyết định ngày càng lớn đến kết quả cuối cùng.
Đáng chú ý, tỷ giá thương mại hàng hóa (TOT) của Việt Nam 9 tháng giảm 0,17% so với cùng kỳ. Theo Cục Thống kê, nguyên nhân là tốc độ tăng giá nhập khẩu cao hơn giá xuất khẩu, trong bối cảnh năng lượng, nguyên liệu và linh kiện trên thị trường thế giới vẫn chịu ảnh hưởng của biến động địa chính trị và gián đoạn chuỗi cung ứng.
Điều này tạo ra một nghịch lý lớn đối với doanh nghiệp nông nghiệp: giá bán đầu ra không phải lúc nào cũng tăng theo chi phí đầu vào. Khi giá hàng hóa quốc tế biến động, phần giá trị mà doanh nghiệp Việt Nam giữ lại trong chuỗi có thể bị thu hẹp ngay cả khi lượng hàng xuất khẩu vẫn tăng.
Diễn biến thị trường thế giới hiện cũng không cho phép doanh nghiệp chỉ dựa vào một kịch bản giá. Chỉ số giá lương thực FAO tháng 9/2026 đạt 136 điểm, tăng 1,5% so với tháng 8 và tăng 5,8% so với cùng kỳ. Giá ngũ cốc tăng 5,1%, đường tăng 6,1%, dầu thực vật tăng 0,9%, trong khi giá thịt giảm 1,1%. FAO cho rằng thời tiết bất lợi, gián đoạn vận tải và các rủi ro địa chính trị đang khiến thị trường hàng hóa lương thực toàn cầu trở nên khó dự báo hơn.
Đặc biệt, FAO dự báo sản lượng ngũ cốc toàn cầu năm 2026 giảm 2,1% so với năm trước, nhưng vẫn đạt 2,979 tỷ tấn, mức cao thứ hai trong lịch sử. Thương mại ngũ cốc toàn cầu được dự báo giảm 3,5% trong niên vụ 2025/26, trong khi thương mại gạo quốc tế năm 2026 có thể giảm 2,2%. Với những mặt hàng có tính hàng hóa cao như gạo, cà phê, cao su, sự thay đổi nguồn cung thế giới có thể nhanh chóng truyền dẫn vào giá xuất khẩu của Việt Nam.
Từ bán nhiều sang bán có giá trị
Tại cuộc làm việc với Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ngày 25/9, đại diện các hiệp hội và doanh nghiệp nông, lâm, thủy sản cùng đặt ra yêu cầu chuyển từ tăng sản lượng sang nâng chất lượng, giá trị và vị thế của nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Trường hợp sầu riêng là một ví dụ đáng chú ý. Ông Lê Vũ Tuấn Anh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Chánh Thu, cho biết sản lượng sầu riêng Việt Nam đã tăng khoảng ba lần trong 5 năm, thậm chí vượt Thái Lan, nhưng giá trị thu về vẫn thấp hơn. Theo phản ánh của doanh nghiệp, tỷ lệ sản phẩm chất lượng cao giảm trong khi hàng chất lượng thấp tăng lên.
Đây là vấn đề mang tính cấu trúc. Khi sản lượng tăng nhanh nhưng chất lượng không đồng đều, nguồn cung lớn có thể trở thành sức ép ngược lên giá. Đặc biệt với các mặt hàng tươi sống, khả năng bảo quản, chế biến và phân loại hạn chế khiến doanh nghiệp dễ rơi vào thế phải bán nhanh khi thị trường xuống giá.
Ở nhóm hàng có khả năng chế biến sâu, dư địa tạo giá trị lại lớn hơn. Gạo đang được các doanh nghiệp và Hiệp hội Lương thực Việt Nam đặt vấn đề chuyển từ lợi thế sản lượng sang chất lượng và thương hiệu. Theo đó, thương hiệu gạo phải gắn với giống, vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và khả năng cung ứng ổn định.
Với cà phê, trọng tâm là tăng tỷ trọng chế biến sâu, xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu và thương hiệu Việt Nam. Ngành gỗ cần nguồn nguyên liệu có khả năng truy xuất và ổn định hơn để phục vụ chế biến sâu. Với thủy sản, bài toán lại nằm ở vùng nuôi, chi phí nguyên liệu và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của từng thị trường.
Một vấn đề khác đang ngày càng tác động trực tiếp tới giá trị xuất khẩu. Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký VCCI, các thị trường nhập khẩu ngày càng chuyển từ kiểm soát sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát cả quy trình và chuỗi cung ứng. Vì vậy, dữ liệu vùng trồng, vùng nuôi, hệ thống truy xuất nguồn gốc, năng lực kiểm nghiệm và hỗ trợ pháp lý thương mại quốc tế cần được xem như một phần của “hạ tầng cạnh tranh” quốc gia.
Thị trường xuất khẩu cũng cần được nhìn lại. Châu Á hiện chiếm 49,4% thị phần xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chính của Việt Nam; châu Mỹ chiếm 22,2% và châu Âu 13,5%. Trung Quốc chiếm 24,4%, Mỹ 19,8% và Nhật Bản 7,4%. Trong 9 tháng, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 18,9%, nhưng mức độ tập trung cao ở một số ngành hàng vẫn là rủi ro cần tính đến.
Chẳng hạn, Trung Quốc chiếm khoảng 63% kim ngạch rau quả, 58,7% cao su và khoảng 91% sắn của Việt Nam; trong khi Mỹ chiếm khoảng 50,1% kim ngạch gỗ và sản phẩm gỗ. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đây là những ngành hàng cần tiếp tục đa dạng hóa thị trường để giảm rủi ro phụ thuộc.
Trong khi đó, Bộ Công Thương cho rằng các hiệp hội và doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn cần chủ động xác định rõ yêu cầu của từng thị trường, phối hợp tháo gỡ rào cản và tăng liên kết. Cơ quan này tiếp tục hỗ trợ xúc tiến thương mại và nâng cao năng lực phòng vệ thương mại, nhưng đồng thời nhấn mạnh doanh nghiệp phải giữ chất lượng, nguồn gốc và uy tín hàng hóa, tránh cạnh tranh ngắn hạn làm giảm giá trị của cả ngành hàng.
Với mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2026 ở mức trên 74 tỷ USD, ngành nông nghiệp còn cần khoảng gần 18 tỷ USD trong ba tháng cuối năm, tương đương bình quân gần 6 tỷ USD mỗi tháng. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá mục tiêu này có khả năng đạt được, nhưng triển vọng giữa các ngành hàng không đồng đều: gỗ, thủy sản, rau quả, cao su và sản phẩm chăn nuôi có triển vọng tích cực hơn, trong khi cà phê, hạt điều, sắn và chè vẫn chịu sức ép.
Điều đó cho thấy giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của nông sản Việt khó có thể chỉ dựa vào mở rộng diện tích, tăng sản lượng hay tìm thêm người mua. Giá trị xuất khẩu sẽ ngày càng phụ thuộc vào khả năng kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu, tổ chức chuỗi cung ứng, chế biến, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và sức mạnh đàm phán với khách hàng quốc tế.
Nếu không thay đổi, một phần tăng trưởng về lượng có thể chỉ đủ để bù cho sự suy giảm của giá bán. Ngược lại, nếu nâng được chất lượng và tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng, cùng một sản lượng có thể tạo ra kim ngạch lớn hơn và quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp, người sản xuất giữ lại phần giá trị cao hơn trong chuỗi.
Nguồn:Xuất khẩu nông sản: Tăng kim ngạch, phải tăng giá trị
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Tử vi vòng quay công nghệ ngày 6/10/2026: Tuổi Mão tài lộc khởi sắc, tuổi Ngọ nên tránh quyết định vội vàng
Hoàn thiện hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế biển
Thái Nguyên: Gần 3.000 đơn hàng được chốt tại Phiên chợ nông sản
Kiểm soát nguồn thải trong chế biến nông sản
Hà Nội liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Du lịch Thế giới 2026



