Gia Lai mở rộng vùng nuôi trồng thủy sản tại các hồ chứa
Gia Lai có chiều dài bờ biển 134 km, với hơn 30 hải đảo cùng với vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn. Trên địa bàn tỉnh có 03 đầm (đầm Thị Nại, đầm Đề Gi và đầm Trà Ô) với tổng diện tích gần 8.000 ha, có 283 hồ chứa và 07 con sông lớn (La Tỉnh, Hà Thanh, Lại Giang, Sông Côn, sông Ba, sông Ayun, sông Sê San). Đây là những điều kiện tự nhiên thuận lợi để nguồn lợi thủy sản sinh trưởng và phát triển với nhiều chủng loại phong phú, đa dạng.
Nguồn lợi thủy sản ở vùng biển tỉnh khá đa dạng và phong phú với tổng số khoảng 691 loài hải sản, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế. Ở khu vực Tây Gia Lai có tổng trữ lượng nước khoảng 23 tỷ m3, với nhiều hỗ chứa có diện tích, dung tích nước lớn, khí hậu và nguồn nước phù hợp với sự sinh trưởng, phát triển của nhiều loài thủy sản nước ngọt.
Từ những lợi thế trên, Gia Lai sẽ phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa trở thành lĩnh vực sản xuất hàng hóa trụ cột theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững; ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số; nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm; sử dụng hiệu quả tài nguyên mặt nước hồ chứa, thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân.
![]() |
| Nuôi trồng thủy sản tại các hồ chứa nước trở thành nguồn sinh kế quan trọng tại nhiều địa phương. |
Địa phương này đặt mục tiêu đến năm 2030, phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, bảo đảm phù hợp với sức tải môi trường và chức năng đa mục tiêu của hồ chứa. Mở rộng quy mô nuôi cá lồng bè, hình thành các vùng nuôi tập trung tại các hồ chứa có tiềm năng; phấn đấu đến năm 2030 đạt khoảng 3.800 lồng nuôi, tổng thể tích 500.000 m³, bố trí trên 150 ha mặt nước và sản lượng 16.000 tấn/năm.
Tập trung phát triển nuôi cá lồng bè tại các hồ chứa có tiềm năng như Định Bình (xã Vĩnh Thạnh), Ia Ly (xã Ia Ly), Sê San 4 (xã Ia O), An Khê (xã Cửu An),… phấn đấu đến năm 2030, nâng năng suất nuôi bình quân lên mức 32 kg/m3 với các đối tượng nuôi chủ lực như cá điêu hồng, cá rô phi, cá lăng và các loài thủy sản có giá trị kinh tế.
Ưu tiên phát triển nuôi thủy sản nước lạnh ứng dụng công nghệ cao tại các hồ Vĩnh Sơn A (xã Vĩnh Sơn), Vĩnh Sơn B (xã Sơn Lang) và Vĩnh Sơn C (xã Đăk Rong) với đối tượng nuôi chủ yếu là cá tầm, cá hồi và các loài thủy sản nước lạnh phù hợp; Duy trì và phát triển nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến trên khoảng 5.500 ha mặt nước hồ chứa lớn như Ayun Hạ (xã Ia Hrú), Ia Mơr (xã Ia Mơ), Plei Pai (xã Ia Lâu), Ka Nak (xã Kbang), Ia Mlah (xã Phú Túc),… gắn hoạt động nuôi với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản.
Tỉnh đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ và chuyển đổi số nhằm hiện đại hóa nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa. Ưu tiên ứng dụng hệ thống công nghệ giám sát, quan trắc môi trường tự động và quản lý nuôi thủy sản lồng bè trên hồ chứa, bao gồm hệ thống quan trắc, cảnh báo các chỉ tiêu môi trường (DO, pH, nhiệt độ, tốc độ dòng chảy), hệ thống camera giám sát, phần mềm quản lý dữ liệu và các giải pháp công nghệ phục vụ quản lý, điều hành sản xuất.
![]() |
| Tại các hồ chứa đẩy mạnh nuôi cá điêu hồng, cá rô phi, cá lăng. |
Ứng dụng công nghệ nuôi các đối tượng thủy sản đặc sản có giá trị kinh tế cao như cá tầm, cá chình, tôm càng xanh, cá lăng nha, cá chép giòn; đầu tư hệ thống cung cấp oxy, thiết bị điều tiết nhiệt độ nước, máy cho ăn thông minh và các thiết bị tích hợp công nghệ IoT, AI nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Khuyến khích sử dụng lồng nuôi vật liệu mới (HDPE); triển khai truy xuất nguồn gốc sản phẩm ứng dụng công nghệ Blockchain; đầu tư phần mềm quản lý vùng nuôi và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số.
Xây dựng và triển khai lộ trình ứng dụng công nghệ số trong nuôi lồng bè trên hồ chứa theo 02 giai đoạn: giai đoạn 2026-2027 triển khai thí điểm hệ thống IoT, camera giám sát và cảm biến quan trắc môi trường tại các vùng nuôi trọng điểm; giai đoạn 2028-2030 đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng. Phấn đấu đến năm 2030 có từ 40- 60% số lồng nuôi mới tích hợp thiết bị giám sát tự động.
Tăng cường quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa; thực hiện cấp phép, đăng ký nuôi lồng bè, cấp mã số cơ sở nuôi theo quy định; tổ chức bố trí vùng nuôi phù hợp với sức tải môi trường và bảo đảm an toàn công trình. Tăng cường quan trắc, cảnh báo môi trường, chủ động phòng chống dịch bệnh, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; thực hiện bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản gắn với khai thác hợp lý tiềm năng mặt nước hồ chứa.
Khuyến khích phát triển các hợp tác xã, tổ hợp tác, chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; xây dựng thương hiệu thủy sản nước ngọt của tỉnh, phát triển các sản phẩm OCOP từ thủy sản hồ chứa, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường; từng bước gắn phát triển nuôi trồng thủy sản với du lịch sinh thái và dịch vụ trải nghiệm tại các hồ chứa có tiềm năng.
Việt Nam hiện có hệ thống hồ chứa rất lớn, với khoảng 6.750 hồ thủy lợi đang hoạt động, tổng dung tích khoảng 14,5 tỷ m³, cùng hơn 700 hồ thủy điện. Trong đó, có 13 hồ có diện tích mặt nước trên 5.000 ha, nâng tổng dung tích toàn hệ thống lên hơn 50 tỷ m³. Các hồ chứa phân bố rộng khắp, tập trung nhiều ở miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Ngoài chức năng phát điện, cấp nước và điều tiết lũ, các hồ còn là nơi lưu giữ nguồn lợi thủy sản phong phú, có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng, du lịch sinh thái và các dịch vụ liên quan.
Nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026-2030. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt sản lượng hơn 260.000 tấn mỗi năm, với tổng giá trị khoảng 16.000 tỷ đồng. Trong đó, nuôi lồng bè chiếm hơn 190.000 tấn, nuôi thả trực tiếp hơn 70.000 tấn. Đề án cũng hướng tới tạo việc làm cho hơn 80.000 lao động, nâng thu nhập từ nuôi trồng thủy sản hồ chứa tăng trên 50% so với năm 2025. Đáng chú ý, trên 30% lao động tham gia là đồng bào dân tộc thiểu số.
Một trọng tâm quan trọng là phát triển chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ nuôi trồng, khai thác đến chế biến và tiêu thụ, hướng tới sản xuất hàng hóa hiện đại, có khả năng cạnh tranh cao. Đồng thời, phát huy vai trò của cộng đồng trong quản lý và phát triển, tạo sinh kế bền vững cho người dân ven hồ./.
Nguồn:Gia Lai mở rộng vùng nuôi trồng thủy sản tại các hồ chứa
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Phát huy tiềm năng, tạo sức bật phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng
Đảm bảo an toàn công trình thủy lợi, hệ thống điện mùa mưa lũ
Gia Lai mở rộng vùng nuôi trồng thủy sản tại các hồ chứa
Đọc nhiều





