Giá nông sản hôm nay 16/7: Hồ tiêu và cà phê đồng loạt tăng, lúa gạo tiếp tục ổn định
| Giá nông sản hôm nay 15/7: Lúa tươi tăng mạnh, cà phê và hồ tiêu biến động trái chiều Giá nông sản hôm nay 14/7: Hồ tiêu giảm mạnh, cà phê và lúa gạo giữ ổn định |
Giá hồ tiêu hôm nay: Tăng trở lại, cao nhất 140.000 đồng/kg
Khảo sát sáng 16/7 cho thấy thị trường hồ tiêu trong nước đã lấy lại đà tăng sau phiên điều chỉnh trước đó. Giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm đồng loạt tăng từ 2.000 - 3.000 đồng/kg, đưa mặt bằng giao dịch lên 136.500 - 140.000 đồng/kg.
Đắk Lắk và Đắk Nông (thuộc tỉnh Lâm Đồng theo đơn vị hành chính mới) cùng tăng mạnh 3.000 đồng/kg, đưa giá thu mua trở lại mốc 140.000 đồng/kg - mức cao nhất trên thị trường hiện nay.
![]() |
Tại khu vực TP.HCM (trước đây là Bà Rịa - Vũng Tàu), giá hồ tiêu tăng 2.500 đồng/kg lên 137.500 đồng/kg. Trong khi đó, Đồng Nai và Gia Lai cùng tăng 2.000 đồng/kg, lần lượt đạt 137.000 đồng/kg và 136.500 đồng/kg.
Động thái phục hồi của giá hồ tiêu cho thấy lực mua đã cải thiện sau nhịp điều chỉnh ngắn hạn. Dù chưa trở lại vùng đỉnh thiết lập hồi đầu tháng, mặt bằng giá hiện vẫn cao hơn đáng kể so với giai đoạn đầu tháng 7, phản ánh nguồn cung trong nước tiếp tục ở mức hạn chế.
Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu chưa ghi nhận biến động mới. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục được chào bán ở mức 5.850 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 5.950 USD/tấn đối với loại 550 g/l.
Tại các quốc gia sản xuất lớn, tiêu đen Indonesia giữ mức 7.079 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 ổn định ở 5.900 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục dẫn đầu với mức 9.350 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia duy trì ở mức 9.198 USD/tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục giữ ở 8.200 USD/tấn, còn Malaysia vẫn ở mức cao nhất 12.250 USD/tấn.
Giá cà phê hôm nay: Phục hồi, tiến sát mốc 100.000 đồng/kg
Giá cà phê trong nước sáng 16/7 đồng loạt tăng trở lại sau phiên điều chỉnh trước đó. Tại khu vực Tây Nguyên, giá thu mua tăng thêm 1.200 đồng/kg, đưa mặt bằng giá lên 96.700 - 97.300 đồng/kg.
Đắk Nông (thuộc tỉnh Lâm Đồng theo đơn vị hành chính mới) tiếp tục là địa phương có giá cao nhất với 97.300 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng được thu mua ở mức 97.200 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng đạt 96.700 đồng/kg - thấp nhất trong nhóm các địa phương khảo sát.
![]() |
Đợt phục hồi này giúp giá cà phê trong nước tiến gần mốc 100.000 đồng/kg sau nhiều phiên biến động mạnh theo diễn biến của thị trường thế giới. Việc giá tăng trở lại cũng cho thấy lực cầu nội địa vẫn được duy trì, trong bối cảnh doanh nghiệp tiếp tục thu mua phục vụ các hợp đồng xuất khẩu.
Trên thị trường quốc tế, diễn biến giữa hai sàn giao dịch tiếp tục trái chiều. Tại sàn London, giá cà phê robusta giao tháng 9/2026 tăng 15 USD/tấn, tương đương 0,39%, lên 3.849 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11 cũng tăng nhẹ 4 USD/tấn, đạt 3.800 USD/tấn.
Ngược lại, trên sàn New York, giá cà phê arabica tiếp tục điều chỉnh giảm. Hợp đồng giao tháng 9/2026 mất 3,9 US cent/pound, xuống còn 326,1 US cent/pound, trong khi hợp đồng giao tháng 12 giảm 3,05 US cent/pound, còn 308 US cent/pound.
Theo Reuters và Barchart, giá arabica trên sàn ICE kết thúc phiên ở mức 3,261 USD/pound, giảm khoảng 1,2% so với phiên trước, dù trong phiên có thời điểm tăng tới 6%. Diễn biến này phản ánh sự giằng co mạnh của dòng tiền đầu cơ cũng như tâm lý thận trọng của giới đầu tư trước những thông tin mới về nguồn cung.
Giá lúa gạo hôm nay: Thị trường duy trì ổn định
Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long trong ngày 16/7 tiếp tục diễn biến ổn định. Giao dịch mua bán ở nhiều địa phương vẫn diễn ra chậm, trong khi giá lúa, gạo nguyên liệu và gạo xuất khẩu hầu như không có biến động đáng kể.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi Đài Thơm 8 hiện dao động từ 6.900 - 7.100 đồng/kg. Lúa IR 50404 được thu mua ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa OM 5451 đạt 6.300 - 6.500 đồng/kg; lúa OM 18 dao động 6.300 - 6.500 đồng/kg, còn lúa OM 34 giữ mức 5.600 - 5.700 đồng/kg.
![]() |
Tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, hoạt động giao dịch vẫn khá trầm lắng. Nông dân tiếp tục giữ giá, trong khi thương lái và doanh nghiệp thu mua với khối lượng chưa lớn, khiến mặt bằng giá lúa ít biến động.
Đối với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động từ 9.050 - 9.100 đồng/kg. Gạo nguyên liệu CL 555 giữ mức 9.400 - 9.500 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 380 và Sóc thơm tiếp tục duy trì 7.500 - 7.600 đồng/kg, trong khi gạo thành phẩm IR 504 được giao dịch ở mức 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, giá dao động từ 7.900 - 8.300 đồng/kg. Tấm thơm tăng nhẹ lên 8.200 - 8.300 đồng/kg, còn cám giữ mức 7.900 - 8.050 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, giá phần lớn các loại gạo ổn định, riêng gạo thơm Jasmine ghi nhận giảm khoảng 1.000 đồng/kg. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm 15.000 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg; gạo thường từ 13.000 - 14.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 510 - 520 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 348 - 352 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan duy trì ở mức 478 - 482 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động 409 - 413 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm tiếp tục được chào bán ở mức 350 - 354 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 280 - 284 USD/tấn.
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 16/7: Hồ tiêu và cà phê đồng loạt tăng, lúa gạo tiếp tục ổn định
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Chủ động phòng ngừa thiên tai, ứng phó hiệu quả biến đổi khí hậu
Ấn Độ thúc đẩy chuyển đổi, phát triển giao thông xanh
Phó tổng giám đốc ASG lên ghế CEO sau 6 năm đóng vai "phụ trách"
Chủ động kiểm soát nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
Vinicius gây sốc sau thất bại của Brazil ở World Cup 2026
Đọc nhiều



