Giá nông sản hôm nay 21/10: Cà phê tăng lên 94.000 đồng/kg, hồ tiêu neo cao, lúa gạo biến động nhẹ
| Giá nông sản hôm nay 20/10: Cà phê tăng nhẹ, tiêu đi ngang, lúa gạo ổn định Giá nông sản hôm nay 19/10: Cà phê ít biến động, hồ tiêu neo cao, lúa gạo ổn định |
Giá cà phê tăng mạnh, cao nhất 94.000 đồng/kg
Thị trường cà phê trong nước ngày 21/10 tiếp tục ghi nhận đà tăng, với giá thu mua tại các vùng sản xuất trọng điểm Tây Nguyên tăng 800–900 đồng/kg so với ngày trước, lên mức 93.200–94.000 đồng/kg.
Cụ thể, tại Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), giá cà phê tăng 800 đồng/kg, lên 94.000 đồng/kg, cao nhất trong các địa phương được khảo sát. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cùng tăng 800 đồng/kg, đạt 93.800 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng ghi nhận mức tăng 900 đồng/kg, lên 93.200 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá cà phê robusta và arabica đồng loạt đi lên. Trên sàn London, robusta kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 70 USD/tấn, tương đương 2,05%, lên 3.484 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 tăng 75 USD/tấn, tương đương 2,20%, lên 3.480 USD/tấn.
Tại sàn New York, arabica kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 10,1 US cent/pound, tương đương 3,3%, lên 315,7 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 tăng 7,75 US cent/pound, tương đương 2,63%, đạt 302,25 US cent/pound.
Theo thông tin từ Reuters, giá arabica kỳ hạn trên sàn ICE có thời điểm lên 3,1775 USD/pound, mức cao nhất trong khoảng một tháng. Trước đó, giá mặt hàng này đã tăng 6,5% trong tuần giao dịch gần nhất. Diễn biến tăng được ghi nhận trong bối cảnh tồn kho arabica thấp và đồng real Brazil mạnh lên.
Giá hồ tiêu duy trì ở mức 137.500–140.000 đồng/kg
Trái với diễn biến tăng của cà phê, giá hồ tiêu trong nước ngày 21/10 tiếp tục ổn định tại các địa phương sản xuất trọng điểm, dao động trong khoảng 137.500–140.000 đồng/kg, không thay đổi so với phiên trước.
Tại Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), giá tiêu giữ mức 140.000 đồng/kg, cao nhất trong nhóm địa phương được khảo sát. Đắk Lắk duy trì mức 139.000 đồng/kg, trong khi khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) giữ giá 138.000 đồng/kg.
Ở Gia Lai và Bình Phước (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), giá tiêu cùng ở mức 137.500 đồng/kg, thấp nhất trong nhóm khảo sát. Chênh lệch giữa mức giá cao nhất và thấp nhất là 2.500 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tại các quốc gia sản xuất chủ chốt cũng không ghi nhận điều chỉnh mới. Theo dữ liệu từ Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia ở mức 6.769 USD/tấn; tiêu đen Malaysia đạt 9.100 USD/tấn, còn tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ mức 5.800 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l duy trì ở mức 5.950 USD/tấn, loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok Indonesia ở mức 9.268 USD/tấn, tiêu trắng Malaysia đạt 12.000 USD/tấn và tiêu trắng Việt Nam giữ mức 8.450 USD/tấn.
Giá lúa gạo biến động nhẹ, giá cám giảm
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa tươi ngày 21/10 ghi nhận mức tăng 100 đồng/kg ở một số chủng loại. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi Đài Thơm 8 tăng lên 6.400–6.500 đồng/kg; IR 50404 tăng lên 5.900–6.000 đồng/kg.
Các loại lúa khác gồm OM 18 dao động 6.400–6.600 đồng/kg, OM 34 ở mức 5.800–6.000 đồng/kg, DS1 đạt 6.500–6.600 đồng/kg và OM 5451 dao động 6.000–6.200 đồng/kg.
Tại An Giang, giao dịch mua bán vẫn chậm dù giá một số loại lúa nhích lên. Ở Cần Thơ, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long và Cà Mau, nông dân tiếp tục giữ giá chào, khiến lượng giao dịch chưa nhiều.

Đối với gạo nguyên liệu, thị trường nhìn chung ít biến động. Gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động 8.750–8.850 đồng/kg; CL 555 ở mức 8.800–8.900 đồng/kg; OM 5451 đạt 9.300–9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700–8.850 đồng/kg. Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200–9.400 đồng/kg, trong khi OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500–7.600 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, tấm thơm được ghi nhận trong khoảng 9.300–9.400 đồng/kg. Giá cám giảm 200 đồng/kg, xuống còn 7.900–8.200 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000–22.000 đồng/kg. Gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg, gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg, gạo thường 14.000–15.000 đồng/kg và gạo Sóc thường 15.000–16.000 đồng/kg.
Các loại gạo khác gồm Jasmine ở mức 17.000–18.000 đồng/kg; Đài Thơm 8 và OM 18 cùng dao động 15.000–16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái đạt 20.000 đồng/kg và gạo Nhật ở mức 22.000 đồng/kg. Giá nếp cũng đi ngang, với nếp 3 tháng khô ở mức 9.600–9.700 đồng/kg, nếp IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng dao động 7.300–7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam không thay đổi đáng kể so với đầu tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 100% tấm dao động 371–375 USD/tấn, gạo Jasmine ở mức 515–519 USD/tấn và gạo thơm 5% tấm đạt 440–445 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm được chào bán ở mức 489 USD/tấn. Cùng phẩm cấp, gạo Pakistan dao động 398–402 USD/tấn, trong khi gạo Ấn Độ ở mức 384–388 USD/tấn. Gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ duy trì trong khoảng 380–384 USD/tấn.
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 21/10: Cà phê tăng lên 94.000 đồng/kg, hồ tiêu neo cao, lúa gạo biến động nhẹ
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Tin nhanh chứng khoán ngày 21/10: Họ Vin kéo thị trường thăng hoa, VN Index bứt phá gần 47 điểm
Xuất khẩu cao su giảm tháng thứ 6 liên tiếp, giá tăng gần 30%
COP31: Việt Nam nỗ lực thúc đẩy đầu tư các sự án ‘xanh’
Tiếp tục xây dựng, khẳng định thương hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp”
Đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, động lực tăng trưởng bền vững
Đọc nhiều


