Giá nông sản hôm nay 23/10: Cà phê tiếp đà giảm, hồ tiêu đi ngang, giá gạo xuất khẩu phân hóa
| Giá nông sản hôm nay 22/10: Cà phê giảm sâu, tiêu mất giá, gạo xuất khẩu tăng Giá nông sản hôm nay 21/10: Cà phê tăng lên 94.000 đồng/kg, hồ tiêu neo cao, lúa gạo biến động nhẹ |
Giá cà phê trong nước giảm phiên thứ hai liên tiếp
Thị trường cà phê trong nước ngày 23/10 tiếp tục xu hướng đi xuống tại các địa phương sản xuất trọng điểm. Giá cà phê Robusta nhân xô tại Tây Nguyên giảm 400–500 đồng/kg so với phiên trước, hiện dao động trong khoảng 90.800–91.500 đồng/kg.
Cụ thể, tại Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), giá cà phê giảm 500 đồng/kg, xuống còn 91.500 đồng/kg, cao nhất trong các địa bàn được khảo sát. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cùng giảm 400 đồng/kg, xuống mức 91.400 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng ghi nhận mức thu mua thấp nhất, đạt 90.800 đồng/kg, giảm 400 đồng/kg.
Diễn biến này nối tiếp đà giảm của thị trường sau khi giá cà phê trong nước đánh mất mốc 94.000 đồng/kg trong phiên 22/10.

Trên thị trường quốc tế, giá Robusta và Arabica diễn biến trái chiều. Tại sàn London, hợp đồng Robusta giao tháng 11/2026 giảm 58 USD/tấn, tương đương 1,7%, xuống còn 3.352 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 giảm 60 USD/tấn, tương đương 1,75%, còn 3.364 USD/tấn. Đây là phiên giảm thứ hai liên tiếp của Robusta, sau khi hợp đồng tháng 11/2026 mất 74 USD/tấn trong phiên trước.
Ngược lại, trên sàn New York, giá Arabica giao tháng 12/2026 tăng 4,85 US cent/pound, tương đương 1,56%, lên 316,15 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 tăng 2,25 US cent/pound, tương đương 0,75%, đạt 301,25 US cent/pound.
Giá hồ tiêu giữ ổn định trong nước
Trái với cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước sáng 23/10 không ghi nhận biến động so với phiên trước. Giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm duy trì trong khoảng 137.000–139.500 đồng/kg, sau khi đồng loạt giảm 500 đồng/kg trong ngày 22/10.
Tại Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), giá tiêu giữ mức 139.500 đồng/kg, cao nhất trong nhóm địa phương được khảo sát. Đắk Lắk duy trì mức 138.500 đồng/kg; khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP HCM) ở mức 137.500 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và khu vực Bình Phước (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) cùng giao dịch ở mức 137.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tăng 81 USD/tấn, tương đương 1,2%, lên 6.850 USD/tấn. Giá tiêu trắng Muntok Indonesia tăng 86 USD/tấn, tương đương 0,93%, đạt 9.354 USD/tấn.
Ở các thị trường khác, tiêu đen Malaysia giữ mức 9.100 USD/tấn, còn tiêu đen ASTA 570 của Brazil ổn định ở mức 5.800 USD/tấn. Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục đạt 5.950 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 5.995 USD/tấn đối với loại 550 g/l. Với tiêu trắng, Malaysia duy trì mức 12.000 USD/tấn, trong khi Việt Nam ở mức 8.450 USD/tấn.
Lúa gạo biến động nhẹ, giá xuất khẩu có tín hiệu tăng
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ngày 23/10 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các mặt hàng. Giá lúa tươi tại một số địa phương biến động nhẹ, trong khi giao dịch nhìn chung còn chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi IR 50404 tăng 100 đồng/kg, lên 5.900–6.100 đồng/kg; OM 34 tăng 100 đồng/kg, đạt 5.900–6.000 đồng/kg; OM 5451 tăng 100 đồng/kg, lên 6.100–6.200 đồng/kg. Ngược lại, Đài Thơm 8 giảm 100 đồng/kg, còn 6.300–6.500 đồng/kg. Lúa OM 18 duy trì mức 6.400–6.600 đồng/kg, trong khi DS1 ở mức 6.500–6.600 đồng/kg.

Đối với gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, IR 504 dao động ở mức 8.900–9.000 đồng/kg; CL 555 ở mức 8.800–8.900 đồng/kg; OM 5451 đạt 9.300–9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700–8.850 đồng/kg. Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200–9.400 đồng/kg, còn OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500–7.600 đồng/kg.
Nhóm phụ phẩm biến động trái chiều: tấm thơm tăng 100 đồng/kg, lên 9.400–9.500 đồng/kg; giá cám giảm 100 đồng/kg, xuống 7.850–8.100 đồng/kg. Tại các chợ lẻ, giá gạo nhìn chung đi ngang. Gạo Nàng Nhen được niêm yết ở mức 28.000 đồng/kg, Hương Lài 22.000 đồng/kg, gạo thơm Thái hạt dài 20.000–22.000 đồng/kg và gạo thơm Jasmine 17.000–18.000 đồng/kg. Các loại gạo phổ thông như gạo trắng thông dụng có giá khoảng 16.000 đồng/kg, gạo thường 14.000–15.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức 470–475 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm dao động 423–427 USD/tấn và gạo Jasmine ở mức 518–522 USD/tấn. Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm tăng 2 USD/tấn, lên 478 USD/tấn. Trong khi đó, giá cùng loại của Pakistan giữ ở mức 408–412 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ dao động 384–388 USD/tấn và gạo đồ 5% tấm ở mức 380–384 USD/tấn.
Dù giá chào xuất khẩu của một số chủng loại tăng so với đầu tuần, giao dịch trong nước vẫn chưa sôi động. Nhu cầu mua của một số khách hàng tại Philippines, Trung Quốc và châu Phi có dấu hiệu cải thiện, song giá lúa và gạo thực tế còn phụ thuộc vào chất lượng hàng hóa, tiến độ giao nhận và khả năng chấp nhận giá của bên mua.
Áp lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế vẫn là yếu tố đáng chú ý. Trong 9 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 6,363 triệu tấn gạo, thu về 3,057 tỷ USD, giảm lần lượt 6,72% về lượng và 12,26% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt 480,41 USD/tấn, giảm 30,34 USD/tấn. Những số liệu này cho thấy xuất khẩu gạo vẫn đối mặt với sức ép về giá, dù một số mặt hàng đang ghi nhận mức chào bán cải thiện.
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 23/10: Cà phê tiếp đà giảm, hồ tiêu đi ngang, giá gạo xuất khẩu phân hóa
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Mỹ tìm mọi cách tăng nguồn cung dầu diesel
Điểm tin xây dựng - bất động sản ngày 23/10: Đề xuất sửa đổi ba luật về đất đai, nhà ở và kinh doanh
Nhận định thị trường chứng khoán ngày 23/10: Thận trọng khi quay lại vị thế mua ròng mới
Giá vàng ngày 23/10: Giá vàng thế giới lao dốc mạnh
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 23/10: Đồng bạc xanh giằng co


