Giá nông sản hôm nay 5/11: Giá tiêu đi ngang, cà phê giảm sâu, lúa tươi tăng mạnh
| Giá nông sản hôm nay 4/11: Cà phê giảm nhẹ, giá tiêu đi ngang, gạo nguyên liệu tăng mạnh Giá nông sản hôm nay 3/11: Cà phê lao dốc, hồ tiêu đi ngang sau đợt giảm mạnh |
Giá tiêu hôm nay 5/11: Duy trì ổn định
Giá tiêu hôm nay 5/11/2026 tiếp tục đi ngang tại các vùng sản xuất trọng điểm, với mức thu mua phổ biến từ 134.000 - 136.500 đồng/kg. Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tại các quốc gia sản xuất chủ chốt cũng không ghi nhận biến động mới. Đáng chú ý, cảnh báo của Liên minh châu Âu (EU) đối với hồ tiêu và gia vị giảm hơn 35% trong 9 tháng năm 2026.
Theo khảo sát sáng 5/11, Đắk Lắk tiếp tục là địa phương có giá tiêu cao nhất, đạt 136.500 đồng/kg. Tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), giá tiêu được thu mua ở mức 135.500 đồng/kg. Trong khi đó, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) duy trì mức 134.500 đồng/kg.
Gia Lai và khu vực Bình Phước (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) tiếp tục ghi nhận mức giá 134.000 đồng/kg, thấp nhất trong số các địa phương được khảo sát.

Thị trường duy trì trạng thái đi ngang trong những ngày đầu tháng 11 cho thấy áp lực giảm giá đã phần nào chững lại. Tuy nhiên, khả năng phục hồi vẫn phụ thuộc vào nhu cầu thu mua của doanh nghiệp xuất khẩu, lượng hàng đưa ra thị trường và diễn biến giá hồ tiêu quốc tế.
Trên thị trường thế giới, dữ liệu từ Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy giá hồ tiêu tại các quốc gia sản xuất chủ chốt tiếp tục ổn định. Giá tiêu đen Indonesia duy trì ở mức 6.800 USD/tấn, trong khi tiêu đen ASTA 570 của Brazil được chào bán ở mức 5.700 USD/tấn. Malaysia tiếp tục có giá tiêu đen cao nhất trong nhóm thị trường được khảo sát, đạt 9.100 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l giữ mức 5.950 USD/tấn, còn loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu Muntok Indonesia duy trì ở mức 9.286 USD/tấn, Malaysia đạt 12.000 USD/tấn và Việt Nam ổn định ở mức 8.450 USD/tấn.
Giá cà phê hôm nay 5/11: Tiếp tục giảm sâu
Giá cà phê hôm nay 5/11/2026 giảm 500 - 700 đồng/kg, xuống vùng 83.300 - 84.000 đồng/kg. Trên thị trường quốc tế, giá robusta giảm tới 37 USD/tấn, trong khi arabica cũng đồng loạt đi xuống trước những lo ngại về nguồn cung từ Việt Nam và Brazil.
Theo khảo sát sáng 5/11, giá cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục điều chỉnh giảm từ 500 - 700 đồng/kg so với phiên giao dịch trước. Diễn biến này nối dài xu hướng đi xuống của thị trường nội địa trong những ngày đầu tháng 11, bất chấp việc giá robusta thế giới từng phục hồi trong hai phiên liên tiếp.
Cụ thể, tại Đắk Lắk, giá cà phê giảm 500 đồng/kg, xuống còn 84.000 đồng/kg. Khu vực Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) cũng ghi nhận mức giảm tương tự, đưa giá thu mua về 84.000 đồng/kg. Tại Gia Lai, giá cà phê giảm 500 đồng/kg, còn 84.000 đồng/kg.

Riêng Lâm Đồng tiếp tục là khu vực có giá cà phê thấp hơn so với các địa phương còn lại. Theo thông tin khảo sát, giá thu mua tại đây giảm 700 đồng/kg so với phiên trước. Tuy nhiên, nguồn số liệu được cung cấp chưa nêu mức giá cụ thể sau điều chỉnh.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê đồng loạt quay đầu giảm sau những phiên phục hồi trước đó. Theo dữ liệu giao dịch trên sàn London, giá robusta kỳ hạn tháng 11/2026 giảm 31 USD/tấn, tương đương 0,95%, xuống còn 3.225 USD/tấn.
Hợp đồng giao tháng 1/2027 cũng giảm 31 USD/tấn, tương đương 0,96%, xuống mức 3.210 USD/tấn. Trong khi đó, hợp đồng giao tháng 3/2027 giảm mạnh hơn, mất 37 USD/tấn, tương đương 1,15%, còn 3.190 USD/tấn.
Tại sàn New York, giá cà phê arabica ghi nhận mức giảm mạnh hơn robusta. Cụ thể, hợp đồng arabica giao tháng 12/2026 giảm 8,15 US cent/pound, tương đương 2,79%, xuống còn 283,95 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 giảm 5,95 US cent/pound, tương đương 2,12%, xuống mức 274,6 US cent/pound.
Giá lúa gạo hôm nay 5/11: Lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long tăng mạnh
Trái ngược với diễn biến giảm của cà phê, thị trường lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận nhiều mặt hàng tăng giá trong ngày 5/11. Đáng chú ý, lúa DS1 tăng 400 đồng/kg, OM 5451 tăng 200 đồng/kg, trong khi IR 50404 và OM 34 cùng tăng 100 đồng/kg.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi DS1 tăng 400 đồng/kg, lên mức 7.200 đồng/kg. Lúa OM 34 tăng 100 đồng/kg, dao động trong khoảng 6.000 - 6.200 đồng/kg; OM 5451 tăng 200 đồng/kg, lên mức 6.200 - 6.300 đồng/kg.
Trong khi đó, lúa Đài Thơm 8 và OM 18 tiếp tục được giao dịch trong khoảng 6.500 - 6.800 đồng/kg. Lúa IR 50404 tăng 100 đồng/kg, dao động ở mức 6.000 - 6.300 đồng/kg.
Tại các địa phương, giao dịch lúa Thu Đông diễn ra khá hơn, nông dân có xu hướng neo giá cao. Ở An Giang, hoạt động mua bán sôi động hơn đối với những diện tích lúa gần ngày thu hoạch, một số loại lúa tươi ghi nhận mức tăng đáng kể. Tại Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long và Cà Mau, nông dân chào giá nhích lên, giao dịch mua bán cải thiện.

Đối với mặt hàng gạo nguyên liệu, giá các chủng loại phục vụ xuất khẩu nhìn chung duy trì ổn định. Gạo nguyên liệu IR 504 và CL 555 cùng dao động trong khoảng 9.350 - 9.450 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 dao động từ 8.700 - 8.850 đồng/kg. Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 được giao dịch ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg, trong khi OM 380 và Sóc thơm cùng dao động trong khoảng 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với nhóm phụ phẩm, giá các mặt hàng dao động khoảng 7.800 - 10.000 đồng/kg. Trong đó, tấm được giao dịch ở mức 10.300 - 10.600 đồng/kg, còn cám dao động từ 8.350 - 8.550 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đứng giá so với hôm qua. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất, đạt 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động từ 20.000 - 22.000 đồng/kg. Gạo Nàng Hoa được bán ở mức 21.000 đồng/kg, Đài Thơm 8 từ 17.000 - 18.000 đồng/kg và gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg.
Các loại gạo thường và Sóc thường cùng dao động trong khoảng 14.000 - 15.000 đồng/kg. Gạo thơm Jasmine có giá 17.000 - 18.000 đồng/kg, trong khi OM 18 được bán ở mức 15.000 - 16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định. Giá nếp 3 tháng khô dao động trong khoảng 9.600 - 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng được giao dịch ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đi ngang so với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán trong khoảng 500 - 515 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 390 - 394 USD/tấn; gạo Jasmine ở mức 535 - 539 USD/tấn.
Trên thị trường quốc tế, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan tiếp tục có mức giá cao nhất trong nhóm các nước xuất khẩu chủ chốt, đạt 475 - 479 USD/tấn. Giá gạo cùng loại của Pakistan ổn định ở mức 412 - 416 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ được giao dịch ở mức 385 - 389 USD/tấn, còn gạo đồ 5% tấm dao động trong khoảng 378 - 382 USD/tấn.
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 5/11: Giá tiêu đi ngang, cà phê giảm sâu, lúa tươi tăng mạnh
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Thị trường chứng khoán ngày 05/11: VN Index tiếp đà phục hồi nhưng áp lực chốt lời bắt đầu gia tăng
Tử vi vòng quay công nghệ ngày 06/11/2026: Tuổi Tý vận trình khởi sắc, tuổi Dần cần thận trọng
Giá xăng tiếp tục giảm hơn 2.000 đồng/lít, ba kỳ điều hành liên tiếp đi xuống
Hà Nội đưa hoa, cây cảnh thành ngành kinh tế giá trị cao
Hà Nội yêu cầu xây dựng "luồng xanh" giải quyết thủ tục đầu tư nhà ở xã hội


