Kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành nông nghiệp và môi trường
Trong giai đoạn 2021 - 2025, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của ngành nông nghiệp và môi trường đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của nông sản; hỗ trợ quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, dự báo khí tượng thủy văn, phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa kết quả khoa học, công nghệ còn phân tán; số doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong ngành còn hạn chế; hạ tầng dữ liệu, phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm, kiểm định, truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ; cơ chế đặt hàng theo bài toán lớn và sản phẩm cuối cùng chưa được triển khai mạnh; liên kết giữa cơ quan quản lý, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương chưa thực sự tạo thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ngành.
Giai đoạn 2026 - 2030 là giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng của ngành nông nghiệp và môi trường theo hướng xanh, sinh thái, phát thải thấp, tuần hoàn, số hóa và dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học, quản lý bền vững tài nguyên đất, nước, khoáng sản và phát triển thị trường carbon đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới phương thức quản trị ngành trên nền tảng dữ liệu, công nghệ số và các công nghệ chiến lược.
Luật Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý mới cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các Nghị định số 262/2025/NĐ-CP, 265/2025/NĐ-CP và 267/2025/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa các nội dung về thông tin, thống kê, đánh giá, chuyển đổi số; tài chính, đầu tư; chương trình, nhiệm vụ và cơ chế thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu đứa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu góp phần thực hiện mục tiêu phát triển ngành Nông nghiệp và Môi trường giai đoạn 2026 - 2030; đóng góp trực tiếp vào tăng năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững và hiện đại hóa quản trị ngành.
Bộ đề ra mục tiêu đến năm 2030 nguồn lực ngoài ngân sách cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được kỳ vọng đạt 30-35% tổng kinh phí thực hiện các nhiệm vụ có khả năng ứng dụng và thương mại hóa. Đào tạo khoảng 150 chuyên gia, nhà khoa học nòng cốt và 1.300 nhân lực về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, quản trị tài sản trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Bên cạnh đó, số lượng công bố khoa học quốc tế dự kiến tăng bình quân 10% mỗi năm; số đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ tăng 16-18%/năm; tối thiểu 30% kết quả nghiên cứu được ứng dụng, chuyển giao hoặc phục vụ quản lý nhà nước. Bộ cũng hướng tới hình thành ít nhất 5 trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ tối thiểu 50 doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ và các chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo.
Phát triển và làm chủ một số sản phẩm công nghệ chiến lược (phát triển giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới bằng công nghệ gen, tế bào và công nghệ sinh học; làm chủ vắc xin thú y thế hệ mới, chế phẩm sinh học và sinh phẩm nông nghiệp; xây dựng và vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản).
![]() |
| (Ảnh minh họa). |
Bộ Nông nghiệp và Môi trường ưu tiên phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực của ngành. Trong đó, đối với lĩnh vực nông nghiệp xanh, sinh thái, phát thải thấp và chuỗi giá trị nông sản chủ lực: Phát triển các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ ngành hàng cây lương thực, lúa gạo, sắn, cây ăn quả, cây công nghiệp, rau, hoa, cây cảnh theo chuỗi giá trị bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, các-bon thấp, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu; tập trung vào giống, cơ giới hóa, tự động hóa, truy xuất nguồn gốc, bảo quản, chế biến sâu, dự báo thị trường và giảm phát thải.
Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ về sức khỏe đất, quản lý dinh dưỡng cây trồng, phân bón thế hệ mới, phân bón hữu cơ, phân bón sinh học, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, quy trình canh tác tiết kiệm vật tư, giảm thất thoát dinh dưỡng, bảo vệ tài nguyên đất và phục hồi đất thoái hóa.
Đối với hoạt động chăn nuôi, thú y, thủy sản và an toàn sinh học: Nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ công nghệ chọn tạo giống vật nuôi, công nghệ dinh dưỡng, thức ăn chăn nuôi, chế biến và bảo quản sản phẩm chăn nuôi; công nghệ chuồng trại, thiết bị, tự động hóa, AI, IoT và xử lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính.
Phát triển công nghệ nuôi trồng thủy sản tuần hoàn, tiết kiệm nước, giám sát môi trường, giám sát dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm; nghiên cứu giống thủy sản chủ lực, thức ăn thủy sản, chế phẩm sinh học, thuốc thủy sản thay thế kháng sinh và giải pháp giảm phát thải trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản, chế biến thủy sản.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật, hấp thụ các-bon và kinh tế rừng: Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học, viễn thám, GIS, AI, UAV, IoT và cảm biến trong chọn tạo giống cây lâm nghiệp, bảo tồn và phát triển tài nguyên sinh vật, quản lý rừng bền vững, giám sát tài nguyên rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và đánh giá trữ lượng, khả năng hấp thụ các-bon của rừng. Xây dựng cơ sở khoa học, công nghệ và dữ liệu phục vụ phát triển thị trường các-bon, cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái, đo đạc - báo cáo - thẩm định phát thải, hấp thụ các-bon trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất.
Đối với thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai: Đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng các công nghệ hiện đại (công nghệ bản sao số, công nghệ IoT, viễn thám, AI, …) phục vụ: dự báo, cảnh báo sớm nguồn nước, hạn hán, xâm nhập mặn, lũ lụt, sạt lở đất ...;
Thiết lập cơ sở khoa học, thực tiễn để điều chỉnh, cập nhật, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ thiết kế, sửa chữa, nâng cấp, vận hành công trình khai thủy lợi, đê điều và phòng chống thiên tai thích ứng với sự thay đổi chế độ dòng chảy trên lưu vực sông, do biến đổi khí hậu, do đô thị hóa và các hiện tượng thời tiết cực đoan (mưa, lũ, ...).
Trong quản lý đất đai, tài nguyên nước, địa chất, khoáng sản, đo đạc và bản đồ, viễn thám: Tập trung nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về đất đai; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, viễn thám, UAV, GIS, trí tuệ nhân tạo, cảm biến, dữ liệu lớn và các nền tảng cơ sở dữ liệu trong công tác đo đạc và bản đồ, địa chính, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, định giá đất, thống kê, kiểm kê đất đai, theo dõi biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến về đất đai.
Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ, mô hình, cơ sở dữ liệu số phục vụ bảo đảm an ninh nguồn nước; hạch toán và phát triển kinh tế tài nguyên nước; điều hòa, phân phối, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, tuần hoàn, tái sử dụng nước và phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm. Đẩy mạnh ứng dụng AI, IoT, cảm biến, mô hình hóa, bản sao số và dữ liệu lớn trong điều tra, quan trắc, giám sát, dự báo, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định về tài nguyên nước...
Để bảo vệ môi trường, kinh tế tuần hoàn, kiểm soát ô nhiễm và ứng phó với biến đổi khí hậu: Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ xử lý chất thải, tái chế, công nghệ sinh học môi trường, thu hồi năng lượng từ chất thải, đồng xử lý chất thải, tuần hoàn tài nguyên, quan trắc thông minh, đo lường và giám sát môi trường tự động, liên tục; ưu tiên công nghệ phục vụ xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại và ô nhiễm tồn lưu.
Ứng dụng AI, IoT, dữ liệu lớn, mô hình hóa, viễn thám và nền tảng số trong thu nhận dữ liệu, điều tra, quan trắc, giám sát, cảnh báo, dự báo chất lượng môi trường; xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia và chuyên ngành bảo đảm đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung và liên thông từ trung ương đến địa phương. Nghiên cứu giải pháp dựa vào tự nhiên, công nghệ giảm phát thải, hấp thụ khí nhà kính, kiểm kê phát thải, đo đạc - báo cáo - thẩm định, phát triển thị trường các-bon, thực hiện đóng góp do quốc gia tự quyết định và các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.
Trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, dự báo thiên tai: Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI camera, IoT, LPWAN, radar, vệ tinh, mô hình số trị, học máy, dữ liệu lớn và hệ thống quan trắc tự động trong khí tượng, thủy văn, hải văn; chuẩn hóa, xác thực, chia sẻ dữ liệu quan trắc theo thời gian thực. Phát triển hệ thống dự báo, cảnh báo tổ hợp, đa thiên tai, dự báo dựa trên tác động, cảnh báo sớm lũ, ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, lũ quét, sạt lở đất, bão, nước dâng, sóng lớn, hải văn ven bờ; từng bước triển khai bản sao số cho lưu vực sông, hồ chứa, khu vực ven biển và các vùng rủi ro cao.../.
Nguồn:Kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành nông nghiệp và môi trường
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Thị trường chứng khoán ngày 9/7: VN Index giảm 13 điểm, dầu khí trở thành điểm sáng hiếm hoi
Tử vi vòng quay công nghệ ngày 10/7/2026: Tuổi Hợi tài vận vượng phát, tuổi Tý nên cẩn trọng lời ăn tiếng nói
Xuất khẩu hồ tiêu duy trì đà tăng trưởng
Kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành nông nghiệp và môi trường

