Hà Nội: 33°C
Thừa Thiên Huế: 28°C
TP Hồ Chí Minh: 26°C
Hải Phòng: 34°C
Quảng Ninh: 32°C

Kiểm soát nguồn thải, ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm môi trường biển, đảo

TMO - Quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đã làm gia tăng đáng kể lượng nước thải, chất thải rắn và các chất ô nhiễm đổ vào môi trường biển. Khu vực ven biển thành phố Cần...

Khu vực ven biển thành phố Cần Thơ bao gồm 06 xã, phường: Cù Lao Dung, Trần Đề, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải. Đây là vùng không gian đặc thù nằm ở phía Đông Nam thành phố, tiếp giáp trực tiếp với Biển Đông, đồng thời là khu vực cửa ngõ kết nối giữa hệ thống sông Hậu với vùng biển ven bờ Đồng bằng sông Cửu Long. Sự hình thành khu vực ven biển đã tạo ra bước chuyển quan trọng về không gian phát triển của thành phố Cần Thơ, từ một đô thị trung tâm nội vùng trở thành địa phương có đầy đủ các yếu tố phát triển kinh tế biển, logistics cảng biển và năng lượng tái tạo ven biển.

Khu vực ven biển có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển của thành phố, đồng thời là vùng chịu tác động nhạy cảm của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn và xói lở bờ biển. Đây cũng là khu vực tập trung nhiều hệ sinh thái đặc thù như bãi triều, rừng ngập mặn, vùng cửa sông và vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ quy mô lớn. Hệ thống thủy lợi và công trình kiểm soát mặn từng bước được củng cố nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, nhiều khu vực ven biển vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của triều cường, xâm nhập mặn và sạt lở bờ sông, bờ biển.

Bên cạnh tiềm năng phát triển, khu vực ven biển cũng đang đối mặt với nhiều thách thức môi trường. Tình trạng xói lở bờ sông, bờ biển diễn biến ngày càng phức tạp; riêng xã Cù Lao Dung ghi nhận nhiều đoạn sạt lở nghiêm trọng với tổng chiều dài hơn 480 m, ảnh hưởng khoảng 55 hộ dân và hơn 115 ha đất sản xuất Ngoài ra, hoạt động nuôi tôm thâm canh phát triển nhanh đang tạo áp lực lớn đối với môi trường nước ven biển. Một số địa phương như Vĩnh Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải vẫn còn tồn tại những hạn chế trong công tác quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là thu gom và xử lý nước thải ao nuôi. Đồng thời, biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, triều cường và thời tiết cực đoan tiếp tục là những yếu tố tác động trực tiếp đến sản xuất, sinh kế và hệ sinh thái khu vực ven biển.

Trong thời gian tới, cùng với quá trình phát triển kinh tế biển, mở rộng không gian đô thị và đầu tư hạ tầng giao thông, khu vực ven biển được dự báo sẽ tiếp tục thu hút dân cư và các hoạt động phát triển kinh tế. Quá trình này sẽ làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên nước, hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải, đồng thời làm tăng lượng nước thải sinh hoạt và chất thải rắn phát sinh tại khu vực ven biển. Đây là một trong những nguồn gây sức ép quan trọng đối với công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo của thành phố trong giai đoạn tới.

Quá trình đô thị hóa làm gia tăng chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và một phần đất tự nhiên sang đất ở, đất giao thông, đất thương mại - dịch vụ và các công trình hạ tầng kỹ thuật. Hoạt động san lấp mặt bằng, nâng nền và xây dựng các công trình hạ tầng diễn ra ngày càng nhiều tại các khu vực ven biển, làm gia tăng diện tích bề mặt xây dựng, nhu cầu vật liệu xây dựng và nhu cầu tiêu thoát nước đô thị.

Kiểm soát nguồn thải, ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm môi trường biển, đảo
Trước áp lực từ sự gia tăng các nguồn thải, công tác bảo vệ môi trường biển, đảo được xác định là nhiệm vụ quan trọng cần được đẩy mạnh triển khai.

Cùng với sự mở rộng không gian đô thị, nhu cầu sử dụng nước sạch cho sinh hoạt, dịch vụ và các hoạt động kinh tế tại khu vực ven biển tiếp tục gia tăng, tạo áp lực đối với hệ thống cấp nước và các nguồn nước phục vụ sinh hoạt. Đồng thời, quá trình đô thị hóa cũng làm gia tăng nhu cầu đầu tư hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý nước thải nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị và bảo vệ môi trường

Theo ước tính, tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh tại 06 xã, phường ven biển của thành phố khoảng 21.993,36 m³/ngày. Trong khi đó, hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung tại nhiều khu vực ven biển vẫn chưa được đầu tư đồng bộ, làm gia tăng áp lực đối với công tác thu gom, xử lý nước thải và quản lý nguồn thải phát sinh từ các khu dân cư ven biển.

Ngoài các nguồn thải sinh hoạt, quá trình đô thị hóa còn làm gia tăng nhu cầu phát triển hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước, viễn thông và các công trình công cộng. Hoạt động xây dựng, cải tạo và mở rộng các công trình hạ tầng làm gia tăng nhu cầu khai thác vật liệu xây dựng, vận chuyển vật liệu, phát sinh chất thải xây dựng và các nguồn phát thải trong quá trình thi công, tạo thêm sức ép đối với công tác quản lý môi trường tại khu vực ven biển.

Sự phát triển của ngành chế biến thủy sản kéo theo nhu cầu sử dụng nước, năng lượng và hạ tầng logistics ngày càng lớn, đồng thời phát sinh lượng đáng kể nước thải sản xuất, phụ phẩm chế biến, bùn thải, chất thải rắn và khí thải công nghiệp. Đây là một trong những nguồn gây sức ép quan trọng đối với môi trường nước mặt, vùng cửa sông và vùng biển ven bờ nếu không được thu gom, xử lý và kiểm soát hiệu quả. Áp lực môi trường từ hoạt động công nghiệp thể hiện rõ nhất ở nước thải sản xuất, đặc biệt đối với ngành chế biến thủy sản – lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu công nghiệp ven biển. Nước thải phát sinh chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng (TSS), dầu mỡ, nitơ, phốt pho và vi sinh vật. Nếu không được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả thải, các nguồn thải này sẽ làm gia tăng tải lượng các chất ô nhiễm đưa vào hệ thống sông, kênh rạch, vùng cửa sông và vùng biển ven bờ, tạo sức ép đối với công tác quản lý và bảo vệ môi trường nước.

Ngoài ra, hoạt động công nghiệp còn phát sinh khí thải từ các lò hơi, máy phát điện, phương tiện vận chuyển và các dây chuyền sản xuất, với các thành phần chủ yếu gồm bụi, SO₂, NOₓ, CO và hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC). Các chất ô nhiễm này có khả năng phát tán trong khí quyển, lắng đọng xuống bề mặt đất và nguồn nước thông qua quá trình khuếch tán hoặc nước mưa, góp phần làm suy giảm chất lượng môi trường không khí và môi trường nước khu vực ven biển.

Với quy mô tiếp nhận khoảng 20.249 lượt tàu thuyền cập cảng trong năm 2025, trong đó phần lớn là tàu khai thác xa bờ, cảng cá Trần Đề tạo ra áp lực lớn đối với công tác quản lý chất thải. Theo kết quả ước tính tại mục 2.2.3, đội tàu khai thác thủy sản trên địa bàn phát sinh khoảng 875,6 – 1.100 tấn rác thải nhựa mỗi năm. Với tần suất cập cảng lớn, lượng rác thải này chủ yếu tập trung tại khu vực cảng cá và các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá, làm gia tăng yêu cầu về năng lực thu gom, phân loại và xử lý nhằm hạn chế nguy cơ phát tán ra môi trường.

Bên cạnh rác thải nhựa, hoạt động của tàu thuyền và hệ thống cảng còn phát sinh nhiều nguồn gây sức ép khác đối với môi trường biển và hải đảo, bao gồm nước thải sinh hoạt từ tàu thuyền, nước la canh, dầu mỡ, chất thải nguy hại, khí thải từ động cơ và các chất thải phát sinh trong quá trình bốc dỡ thủy sản, bảo quản, cung ứng nhiên liệu, cung ứng nước đá, sửa chữa tàu thuyền và thu mua hải sản. Các hoạt động này diễn ra thường xuyên với cường độ lớn tại khu vực cảng, làm gia tăng tải lượng chất ô nhiễm và nguy cơ xảy ra các sự cố môi trường nếu không được quản lý chặt chẽ.

Cùng với quá trình phát triển kinh tế biển, quy mô các hoạt động du lịch, thương mại và dịch vụ ven biển có xu hướng tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Sự phát triển này tạo động lực tăng trưởng kinh tế và việc làm cho địa phương, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên, phát sinh chất thải và tạo áp lực ngày càng lớn lên môi trường vùng cửa sông, ven biển

Những tác động trên không chỉ làm suy giảm chất lượng sinh cảnh và nguồn lợi thủy sản mà còn ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của các hệ sinh thái ven biển. Do đó, việc tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên, kiểm soát ô nhiễm và khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản là những yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm phát triển kinh tế biển bền vững trong thời gian tới.

Kiểm soát nguồn thải, ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm môi trường biển, đảo
Cần Thơ tăng cường kiểm soát các nguồn thải, ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm môi trường khu vực biển, đảo.

Trước tình hình trên, thành phố Cần Thơ kiểm soát ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động kinh tế ven biển. Hoàn thiện hạ tầng thu gom, xử lý nước thải; kiểm soát nguồn thải; áp dụng mô hình sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn trong nuôi trồng thủy sản; tăng cường thanh tra, kiểm tra và giám sát chất lượng môi trường; Kiểm soát ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động kinh tế ven biển; Tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng Hoàn thiện hệ thống thu gom, phân loại, xử lý chất thải; triển khai các mô hình thu gom rác tại cửa sông, bãi triều; thúc đẩy giảm nhựa dùng một lần và phát triển kinh tế tuần hoàn đối với chất thải nhựa

Bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển, ven biển; Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý tổng hợp vùng bờ Phục hồi rừng ngập mặn; triển khai quản lý tổng hợp vùng bờ (ICZM); đầu tư các công trình phòng chống sạt lở kết hợp giải pháp dựa vào thiên nhiên; tăng cường giám sát diễn biến đường bờ.

Đến năm 2030, phát triển các mô hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng gắn với bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái, văn hóa biển trên địa. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý hoạt động du lịch nhằm kiểm soát sức tải môi trường, giảm thiểu phát sinh chất thải, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường. Tăng cường quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực đô thị, xã ven biển và các địa bàn có hoạt động du lịch, dịch vụ, bảo đảm tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt trên 95%.

Đồng thời, triển khai hiệu quả phân loại chất thải rắn tại nguồn, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải, từng bước giảm tỷ lệ chôn lấp, hạn chế ô nhiễm môi trường đất, nước và biển. Đẩy mạnh trồng, phục hồi và nâng cao chất lượng rừng phòng hộ ven biển, góp phần bảo vệ bờ biển, giảm thiểu sạt lở, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học. Phấn đấu trong giai đoạn 2026 – 2030, diện tích trồng rừng phòng hộ ven biển đạt khoảng 250 ha, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng.

Thành phố đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và logistics ven biển theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường, bảo đảm lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong quá trình quy hoạch, xây dựng và vận hành các công trình hạ tầng. Việc hoàn thành tuyến đường bộ ven biển và hình thành các khu, cụm kinh tế biển, trong đó có Trần Đề, cần gắn với kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, bảo vệ hệ sinh thái ven biển và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, góp phần hình thành hành lang kinh tế biển phát triển theo hướng xanh và bền vững.

Phát triển các nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo từ biển theo hướng giảm phát thải và bảo vệ môi trường, ưu tiên phát triển điện gió ngoài khơi và các mô hình năng lượng xanh phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương. Đồng thời, tăng cường quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác tài nguyên biển, bao gồm khai thác cát biển, bảo đảm tuân thủ quy hoạch, đánh giá tác động môi trường và phục hồi môi trường sau khai thác, góp phần phát triển kinh tế biển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực quan trắc môi trường tự động, công nghệ xử lý chất thải, viễn thám và chuyển đổi số, đã mở ra cơ hội lớn để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường với chi phí ngày càng hợp lý. Việc ứng dụng các công nghệ hiện đại như hệ thống quan trắc môi trường trực tuyến, công nghệ viễn thám từ vệ tinh Sentinel-2 và các mô hình xử lý chất thải tiên tiến sẽ giúp tăng cường năng lực giám sát, dự báo và kiểm soát ô nhiễm môi trường, đặc biệt tại các khu vực ven biển và vùng nuôi trồng thủy sản tập trung.

Thành phố đặt mục tiêu nâng tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực ven biển đạt trên 95%. Hoàn thiện hệ thống thu gom và xử lý nước thải tại các khu dân cư tập trung, khu nuôi trồng thủy sản và cơ sở chế biến thủy sản. Kiểm soát chặt chẽ việc xả thải vào sông, kênh rạch và vùng cửa sông đổ ra biển. Xây dựng các điểm thu gom chất thải và ngư cụ hư hỏng tại cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền. Triển khai phân loại chất thải rắn tại nguồn theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

Áp dụng mô hình nuôi trồng thủy sản tuần hoàn, nuôi tôm ít phát thải, sử dụng hiệu quả nước và tái sử dụng phụ phẩm. Kiểm soát môi trường tại các cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, cơ sở hậu cần nghề cá và cơ sở chế biến thủy sản. Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn, kiểm kê khí nhà kính và giảm phát thải trong chuỗi giá trị thủy sản. Kiểm soát và giảm lượng rác thải nhựa phát sinh từ đất liền và hoạt động thủy sản ra môi trường biển.

Tổ chức thường xuyên các chiến dịch làm sạch bờ biển, cửa sông và khu vực ven biển. Thiết lập hệ thống thu gom ngư cụ hư hỏng tại các cảng cá. Hỗ trợ ngư dân chuyển đổi từ phao xốp sang vật liệu thân thiện môi trường. Thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đối với các sản phẩm nhựa. Xây dựng các mô hình cộng đồng giảm thiểu rác thải nhựa tại khu vực ven biển. Đầu tư, nâng cấp mạng lưới quan trắc môi trường biển và ven biển.

Ứng dụng công nghệ IoT, GIS, viễn thám và trí tuệ nhân tạo trong quản lý môi trường. Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển thống nhất trên địa bàn thành phố. Kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống thông tin tài nguyên và môi trường biển quốc gia. Tăng cường giám sát tự động đối với các nguồn thải lớn và các khu vực nhạy cảm về môi trường.

Rà soát, xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp trong quản lý, khai thác, cập nhật và chia sẻ dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo giữa các sở, ngành, địa phương sau khi sáp nhập địa giới hành chính; chuẩn hóa cơ sở dữ liệu, quy trình cập nhật, khai thác và chia sẻ thông tin, bảo đảm kết nối đồng bộ với cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường của thành phố và cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định./.

Nguồn: Kiểm soát nguồn thải, ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm môi trường biển, đảo

Ngọc Ánh
thiennhienmoitruong.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin mới nhất

Kiểm soát nguồn thải, ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm môi trường biển, đảo

Kiểm soát nguồn thải, ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm môi trường biển, đảo
TMO - Quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đã làm gia tăng đáng kể lượng nước thải, chất thải rắn và các chất ô nhiễm đổ vào môi trường biển. Khu vực ven biển thành phố Cần...