Quảng Ngãi phát triển bền vững các ngành kinh tế biển
Với bờ biển dài khoảng 130km, vùng biển rộng hơn 11.000km2, cùng Khu kinh tế Dung Quất, hệ thống cảng biển và đặc khu Lý Sơn, Quảng Ngãi có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế biển, từng bước đưa kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng của tỉnh.
Qua 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TUcủa Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XX về tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế biển tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2021 - 2025, nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của biển, đảo trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển, bảo vệ chủ quyền biên giới biển, đảo được nâng cao. Kinh tế biển và vùng ven biển tiếp tục giữ vai trò động lực quan trọng trong phát triển của tỉnh; tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn các địa phương có biển chiếm 90,9% tổng giá trị sản phẩm toàn tỉnh
Công tác bảo vệ môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu được tăng cường; 02/03 khu công nghiệp ven biển đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn môi trường; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải nguy hại đạt 81%, chất thải rắn sinh hoạt tại các địa phương ven biển đạt 90%; công tác bảo tồn hệ sinh thái biển tiếp tục được chú trọng; tỷ lệ che phủ rừng tại các xã, phường ven biển và đặc khu Lý Sơn đạt 26,94%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra; chất lượng cuộc sống người dân được cải thiện; quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới biển được tăng cường, giữ vững
Đối với đặc khu Lý Sơn, giai đoạn 2021 - 2025 tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân đạt 5,23%/năm; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ (chiếm 42,74%), nông nghiệp chiếm 43,92%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 13,34%; kết cấu hạ tầng từng bước được đầu tư đồng bộ.
![]() |
| Quảng Ngãi phát huy lợi thế phát triển tổng thể các ngành kinh tế biển (Ảnh minh họa). |
Tuy nhiên, phát triển kinh tế biển trên địa bàn tỉnh vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Một số ngành kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế như du lịch biển chưa có sự chuyển biến rõ nét, thiếu sự liên kết giữa các điểm du lịch trong tỉnh và liên tỉnh; chưa hình thành các sản phẩm du lịch đường thủy đặc sắc. Hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên biển chưa cao.
Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu, chưa tạo động lực cho thu hút đầu tư để phát triển kinh tế và đô thị ven biển. Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển còn nhiều bất cập; ô nhiễm môi trường vùng ven biển, hải đảo vẫn diễn ra; một bộ phận ngư dân còn thiếu hiểu biết pháp luật về biển gây khó khăn trong công tác “gỡ” thẻ vàng IUU.
Theo Nghị quyết số 12-NQ/TU của Tỉnh ủy Quảng Ngãi, giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh định hướng kinh tế biển phát triển nhanh và bền vững trở thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tài nguyên biển được khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, gắn với bảo tồn hệ sinh thái biển, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Các hoạt động, khai thác sử dụng tài nguyên biển để phục vụ phát triển các ngành kinh tế biển phải trong khả năng phục hồi của các hệ sinh thái biển và bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển.
Về đóng góp của kinh tế biển: Tổng giá trị sản phẩm của các xã, phường, đặc khu có biển đóng góp trên 65% tổng giá trị sản phẩm của toàn tỉnh. Tốc độ tăng trưởng của ngành thủy sản đạt 4,18%/năm, trong đó sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030 đạt 267.882 tấn, tỷ lệ sản lượng thủy sản khai thác, nuôi trồng chứng nhận, kiểm soát khai thác hợp pháp đạt 100%.
Tối thiểu 60% doanh nghiệp hoạt động trong các ngành kinh tế biển ứng dụng công nghệ số, AI, dữ liệu lớn hoặc IoT trong quản trị, sản xuất, kinh doanh. Quản lý, bảo vệ và tăng diện tích Khu bảo tồn biển Lý Sơn, các khu bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản phấn đấu góp phần đạt 06% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; tỷ lệ che phủ rừng ở các xã, phường có biển đạt 16,66%;
Bên cạnh đó 98% chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt chuẩn; 95% chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị được thu gom và xử lý theo quy định ở các xã, phường có biển; 100% khu công nghiệp ven biển thuộc Khu kinh tế Dung Quất đi vào hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung, vận hành ổn định, đáp ứng quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường theo quy định.
Giai đoạn 2026 - 2030, tốc độ tăng trưởng kinh tế của đặc khu Lý Sơn đạt 6,5%; đến năm 2030, thương mại - dịch vụ chiếm 50,2%; nông nghiệp chiếm 37,2%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 12,6%; 100% người dân được tiếp cận điện, nước sạch, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục. Xây dựng đặc khu Lý Sơn thành đảo du lịch sinh thái gắn với phát triển đô thị xanh, thông minh và các căn cứ dịch vụ hậu cần trên biển.
Tầm nhìn đến năm 2045, Quảng Ngãi phấn đấu duy trì tỉnh phát triển khá của cả nước, trở thành một cực tăng trưởng quan trọng ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên, kinh tế biển phát triển nhanh, bền vững, giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt trong cơ cấu nền kinh tế. Đời sống tinh thần của Nhân dân vùng ven biển, đảo được nâng cao; quốc phòng, an ninh được tăng cường, giữ vững.
Thời gia tới, tỉnh tiếp tục phát triển nhanh và bền vững các ngành kinh tế biển: Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa, lịch sử, tài nguyên thiên nhiên và bản sắc con người Quảng Ngãi để thu hút đầu tư, phát triển du lịch với hạt nhân tam giác phát triển: Trung tâm du lịch biển đảo Lý Sơn, Khu du lịch Măng Đen, Di tích quốc gia đặc biệt Văn hóa Sa Huỳnh. Tăng cường kết nối các tuyến du lịch từ vùng biển đến vùng rừng núi.
Phát triển Khu du lịch Mỹ Khê theo định hướng khu du lịch quốc gia; thu hút đầu tư các khu nghỉ dưỡng biển, tổ hợp dịch vụ, giải trí cao cấp, đô thị biển có thương hiệu mạnh, gắn với bảo tồn văn hoá biển, đảo. Chú trọng phát triển các sản phẩm chất lượng cao, có bản sắc riêng và lợi thế cạnh tranh như du lịch địa chất, khảo cổ, nghỉ dưỡng, sinh thái và chăm sóc sức khỏe phù hợp xu hướng thị trường.
Phát triển công nghiệp biển theo hướng hiện đại, bền vững, trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh; ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, thân thiện môi trường và có giá trị gia tăng cao. Tập trung thu hút các dự án công nghiệp quy mô lớn, có tính lan tỏa, tạo động lực phát triển các ngành kinh tế biển.
Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm tại Khu kinh tế Dung Quất như lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí, công nghiệp khí, công nghiệp hỗ trợ; phát triển năng lượng tái tạo phù hợp quy hoạch, gắn với đổi mới công nghệ theo hướng xanh, tuần hoàn và phát thải thấp. Kiên quyết sàng lọc, không thu hút các dự án tiêu hao nhiều năng lượng, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.
Đẩy mạnh phát triển dịch vụ logistics, kết nối đồng bộ, hiệu quả với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không. Tăng cường ứng dụng công nghệ số, tự động hóa trong quản lý, khai thác cảng biển. Khuyến khích các doanh nghiệp, nhà đầu tư phát triển hệ thống cảng theo cụm, kết nối thuận lợi với đường bộ, tạo điều kiện hình thành các cảng đầu mối có quy mô lớn. Phát triển công nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu biển theo hướng hiện đại, thân thiện môi trường, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ sở sửa chữa, đóng tàu hiện hữu.
Phát triển hài hòa giữa khai thác và nuôi trồng thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững; đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu nghề cá phù hợp với nguồn lợi và điều kiện thực tế. Xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu nghề cá; ứng dụng công nghệ trong quản lý, giám sát hoạt động tàu cá nhằm nâng cao hiệu quả theo dõi, kiểm soát khai thác thủy sản. Tăng cường tuyên truyền, vận động ngư dân chấp hành nghiêm các quy định pháp luật; nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển, kiên quyết xử lý các hành vi khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.
Đồng thời, xây dựng chính sách hỗ trợ chuyển đổi sinh kế, phát huy vai trò các nghiệp đoàn nghề cá; nâng cao năng lực khai thác xa bờ, giảm dần khai thác ven bờ gắn với bảo vệ và phục hồi nguồn lợi thủy sản. Thu hút đầu tư phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá, hệ thống bảo quản, chế biến thủy sản nhằm nâng cao giá trị gia tăng của ngành; ưu tiên phát triển các chuỗi giá trị thủy sản chủ lực, sản phẩm đặc hữu gắn với chỉ dẫn địa lý, thương hiệu và thị trường tiêu thụ.
![]() |
| Các ngành kinh tế biển được khai thác và phát triển hiệu quả. |
Phát triển hợp lý và đa dạng hóa các nguồn năng lượng, trong đó khuyến khích đầu tư xây dựng, khai thác điện gió ngoài khơi, điện mặt trời và các dạng năng lượng tái tạo khác; ứng dụng khoa học - công nghệ để nghiên cứu, sản xuất dược phẩm từ sinh vật biển. Kiểm soát chặt chẽ và nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động khai thác, sử dụng khoáng sản biển, đặc biệt là cát biển. Phát triển diêm nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững, đạt năng suất ở địa phương có truyền thống sản xuất muối.
Tỉnh chú trọng nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các hoạt động kinh tế biển; ưu tiên triển khai các đề tài, dự án khoa học công nghệ phục vụ điều tra cơ bản; quan trắc, giám sát, dự báo môi trường biển; bảo tồn, phục hồi các hệ sinh thái biển; triển khai hệ thống quản trị, giám sát môi trường trên nền tảng số tại khu kinh tế, khu công nghiệp và cảng biển của tỉnh.
Phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế biển theo hướng bảo đảm số lượng, chất lượng và cơ cấu phù hợp; ưu tiên đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành kinh tế biển mũi nhọn như logistics, công nghiệp biển, du lịch biển, năng lượng tái tạo và chuyển đổi số. Đẩy mạnh đào tạo nghề, đào tạo lại, chuyển đổi nghề cho lao động vùng ven biển; nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ; phát triển nguồn lao động kỹ thuật tại chỗ đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển.
Tiếp tục đầu tư, hoàn thiện kết cấu hạ tầng công nghiệp ven biển, ưu tiên hạ tầng giao thông, logistics và hạ tầng số, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Huy động và ưu tiên nguồn lực để hoàn thiện kết cấu hạ tầng trọng điểm tại Khu kinh tế Dung Quất, các khu công nghiệp, hành lang giao thông Đông - Tây, tăng cường kết nối Khu kinh tế Dung Quất với khu vực Tây Nguyên, đáp ứng yêu cầu phát triển và nhu cầu của nhà đầu tư trong nước và nước ngoài./.
Nguồn: Quảng Ngãi phát triển bền vững các ngành kinh tế biển
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Quảng Ngãi phát triển bền vững các ngành kinh tế biển





