Tăng tốc cải cách, mở rộng dư địa tăng trưởng cho nền kinh tế
Tại Kỳ họp thứ Nhất Quốc hội khóa XVI, nhiều mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 đã được đưa ra với tinh thần quyết liệt, trong đó nhấn mạnh yêu cầu duy trì tốc độ tăng trưởng cao, nâng hiệu quả đầu tư công, cải cách thủ tục hành chính và tăng cường năng lực chống chịu của nền kinh tế trước biến động bên ngoài.
Hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030
Một trong những điểm đáng chú ý nhất trong định hướng điều hành giai đoạn 2026-2030 là mục tiêu “kiên quyết không chấp nhận tăng trưởng thấp”, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số, từ 10%/năm trở lên. Song song với đó, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 được đặt mục tiêu đạt khoảng 8.500 USD/người/năm, hướng tới nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Chính phủ định hướng thúc đẩy đồng thời cả ba động lực tăng trưởng gồm đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu. Trong đó, thị trường trong nước tiếp tục được xem là trụ đỡ quan trọng khi mục tiêu tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2026 được đặt trong khoảng 13-15%.
Dữ liệu kinh tế tháng 4/2026 cho thấy sức mua trong nước đang duy trì xu hướng tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 12,1% so với cùng kỳ, trong đó nhóm hàng hóa tăng 12,2% và dịch vụ tăng 11,7%. Động lực tiêu dùng được kỳ vọng tiếp tục cải thiện nhờ các chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh và kích cầu thị trường nội địa.
![]() |
Ở góc độ tài khóa, tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 dự kiến đạt khoảng 16,4 triệu tỷ đồng, tương đương tỷ lệ huy động bình quân khoảng 18% GDP. Trong khi đó, tổng chi ngân sách ước khoảng 21,2 triệu tỷ đồng, với định hướng tăng mạnh tỷ trọng chi đầu tư phát triển lên khoảng 40% tổng chi ngân sách, thay vì tập trung chủ yếu vào chi thường xuyên như trước đây.
Đầu tư công tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt nền kinh tế. Quốc hội đã thông qua kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2031 với tổng vốn lên tới 8,22 triệu tỷ đồng, bao gồm 3,8 triệu tỷ đồng vốn ngân sách trung ương và 4,42 triệu tỷ đồng vốn ngân sách địa phương. Định hướng mới không chỉ tập trung vào quy mô vốn mà còn nhấn mạnh hiệu quả sử dụng vốn. Số lượng dự án đầu tư công sẽ giảm tối thiểu 30% so với giai đoạn trước nhằm hạn chế dàn trải, đồng thời phấn đấu tỷ lệ giải ngân đạt trên 100% kế hoạch.
Dù vậy, thực tế giải ngân trong 4 tháng đầu năm vẫn còn chậm. Tổng giá trị giải ngân đạt khoảng 144,3 nghìn tỷ đồng, giảm 1,7% so với cùng kỳ và mới hoàn thành 14,2% kế hoạch Thủ tướng giao. Chính phủ đang ưu tiên thúc đẩy nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn như tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh trị giá khoảng 5,6 tỷ USD, siêu cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ gần 5 tỷ USD, Metro số 2 TP.HCM hay các dự án phục vụ APEC 2027.
Bên cạnh hạ tầng giao thông, lĩnh vực năng lượng cũng được xem là một trong những trọng tâm lớn của giai đoạn tới. Chính phủ đặt mục tiêu triển khai hiệu quả Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, phát triển điện gió ngoài khơi, LNG và xây dựng cơ chế đặc thù để thu hút đầu tư vào các dự án năng lượng trọng điểm.
Năm 2026 dự kiến sẽ khởi công hàng loạt dự án điện khí LNG quy mô lớn như Quảng Trạch II, Nghi Sơn và Quỳnh Lập, mỗi dự án công suất khoảng 1.500 MW. Đồng thời, Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I công suất 1.403 MW dự kiến được đưa vào vận hành.
Ở khu vực đối ngoại, xuất khẩu tiếp tục duy trì vai trò động lực tăng trưởng chủ lực. Trong 4 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 168,5 tỷ USD, tăng gần 20% so với cùng kỳ. Riêng xuất khẩu sang Mỹ tăng 24%, chiếm khoảng 32% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Dòng vốn FDI cũng ghi nhận tín hiệu tích cực khi vốn thực hiện đạt khoảng 2 tỷ USD trong tháng 4, tăng 11,8% so với cùng kỳ, còn vốn đăng ký mới tăng mạnh 51%. Chính phủ kỳ vọng việc cải cách khung pháp lý ngoại hối và cơ chế khuyến khích tái đầu tư sẽ giúp thu hút thêm dòng vốn chất lượng cao trong thời gian tới.
Đẩy mạnh cải cách thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp
Song song với mục tiêu tăng trưởng cao, cải cách thể chế được xác định là giải pháp cốt lõi nhằm khơi thông nguồn lực và nâng cao hiệu quả vận hành của nền kinh tế.
Tinh thần xuyên suốt của giai đoạn mới là chuyển mạnh tư duy từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”. Chính phủ đặt mục tiêu cắt giảm 50% thời gian và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, đồng thời giảm tối thiểu 30% ngành nghề kinh doanh có điều kiện và loại bỏ toàn bộ các điều kiện kinh doanh không cần thiết.
![]() |
| Cải cách thủ tục, đơn giản hóa quy định tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thông thoáng |
Trong tháng 4/2026, Chính phủ đã ban hành 8 nghị quyết liên quan đến cắt giảm 184 thủ tục hành chính và 890 điều kiện kinh doanh ở nhiều lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, logistics, khoa học công nghệ, y tế và xây dựng.
Một trong những điểm đáng chú ý là thời gian phê duyệt cho nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tại tổ chức tín dụng Việt Nam được rút ngắn xuống còn 19 ngày làm việc. Trong lĩnh vực chứng khoán và quản lý quỹ, nhiều thủ tục liên quan đến nới room ngoại, tăng vốn hay tái cấu trúc quỹ đầu tư được đơn giản hóa nhờ cơ chế tái sử dụng dữ liệu và liên thông hệ thống.
Đối với lĩnh vực logistics, doanh nghiệp được chủ động cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức quốc tế mà không cần xin cấp lại giấy phép như trước, qua đó giúp giảm đáng kể chi phí vận hành.
Một chính sách đáng chú ý khác là Nghị quyết 29/2026/QH16 nhằm tháo gỡ các vi phạm đất đai tồn đọng trước thời điểm Luật Đất đai 2024 có hiệu lực. Chính sách này được kỳ vọng giúp khơi thông hơn 3.338 dự án đang bị đình trệ, đồng thời rút ngắn nhiều quy trình xử lý hồ sơ xuống còn tối đa 5 ngày làm việc.
Trong năm 2026, Chính phủ cũng dự kiến sửa đổi Luật Đất đai và hoàn thiện cơ chế xử lý tài sản công là nhà đất dôi dư nhằm nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Bên cạnh cải cách hành chính, khoa học công nghệ và chuyển đổi số tiếp tục được ưu tiên mạnh. Nhà nước đặt mục tiêu dành tối thiểu 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhiều định hướng mới được thúc đẩy như phát triển công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), xây dựng cơ sở nghiên cứu công nghệ lõi và vận hành thí điểm sàn giao dịch dữ liệu, tài sản mã hóa và tài sản kỹ thuật số từ quý II/2026.
Về hạ tầng số, Việt Nam đặt mục tiêu phủ sóng 5G toàn quốc, phát triển cơ sở dữ liệu liên thông và lọt nhóm 4 quốc gia dẫn đầu ASEAN về Chính phủ điện tử ngay trong năm 2026.
Chủ động thích ứng trước biến động toàn cầu và áp lực lạm phát
Trong bối cảnh môi trường quốc tế tiềm ẩn nhiều rủi ro, Chính phủ đồng thời nhấn mạnh yêu cầu điều hành linh hoạt, chủ động thích ứng trước các biến động kinh tế và địa chính trị toàn cầu. Một loạt tổ công tác đặc biệt đã được thành lập nhằm xử lý các vấn đề chiến lược. Trong đó có tổ công tác theo dõi và thích ứng với thay đổi chính sách kinh tế, thương mại của Mỹ; tổ công tác phát triển công nghệ chiến lược; tổ công tác tháo gỡ vướng mắc quy hoạch sau sáp nhập; và tổ công tác đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Động thái này cho thấy định hướng điều hành ngày càng linh hoạt và chủ động hơn trong bối cảnh cạnh tranh thương mại toàn cầu và biến động chuỗi cung ứng tiếp tục gia tăng.
![]() |
Tuy nhiên, áp lực lạm phát đang trở thành một thách thức lớn đối với mục tiêu tăng trưởng cao. Chỉ số CPI tháng 4/2026 tăng 5,5% so với cùng kỳ, mức cao nhất trong nhiều năm gần đây. Ba nhóm hàng đóng góp lớn nhất vào đà tăng lạm phát gồm giao thông tăng 11,1%, nhóm nhà ở - điện nước - vật liệu xây dựng tăng 8% và ăn uống ngoài gia đình tăng 8,3%.
Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước hiện xây dựng ba kịch bản lạm phát cho năm 2026, dao động từ 4,5% đến 5,5%. Trong khi đó, dự báo của 19 tổ chức quốc tế cho thấy lạm phát Việt Nam năm nay có thể dao động trong khoảng 3,4-5,1%, với mức trung bình khoảng 4,3%.
Ngoài áp lực giá cả, cán cân thương mại cũng đang chịu sức ép khi Việt Nam nhập siêu khoảng 7,1 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu lớn, trong khi khu vực FDI tiếp tục xuất siêu.
Theo đánh giá của Mirae Asset, việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng hiệu quả đầu tư công, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển các động lực tăng trưởng mới sẽ đóng vai trò then chốt trong việc duy trì đà tăng trưởng của nền kinh tế giai đoạn tới. Trong bối cảnh dư địa chính sách không còn quá lớn, việc khơi thông nguồn lực từ khu vực tư nhân, tăng hiệu quả sử dụng vốn và nâng năng lực thích ứng của nền kinh tế sẽ là yếu tố quyết định để Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
Nguồn:Tăng tốc cải cách, mở rộng dư địa tăng trưởng cho nền kinh tế
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Cập nhật nhanh, phát hiện sớm ô nhiễm không khí bằng công nghệ viễn thám
Ấn Độ kêu gọi người dân sử dụng tiết kiệm năng lượng
Phú Thọ ‘tạo đà’ tăng trưởng mới cho ngành thủy sản
TP. HCM tăng cường quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học vùng đất ngập nước
Bắc Ninh đẩy mạnh quảng bá thương hiệu nông sản trên nền tảng số
Đọc nhiều



