Để dòng sông trở thành nguồn lực phát triển
![]() |
| Sau khi tạo nguồn nước cho các hồ thủy điện ở thượng nguồn, sông Krông Nô tiếp tục cung cấp nước tưới cho ruộng đồng, nuôi thủy sản lồng bè ở hạ lưu |
Một nguồn nước, nhiều nhu cầu
Cũng như nhiều con sông trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, sông Krông Nô đi qua những cánh đồng, hồ chứa, khu dân cư, vùng sản xuất rồi tiếp tục chảy về hạ lưu. Trên hành trình ấy, nguồn nước được sử dụng cho nhiều mục tiêu khác nhau, từ sinh hoạt, tưới tiêu, chăn nuôi, sản xuất điện…
Gia đình ông Nguyễn Văn Lành, thôn Xuyên Tân, xã Quảng Phú có hơn 2 ha đất sản xuất. Ngoài hơn 1,5 ha trồng cà phê, diện tích còn lại ông luân canh bắp, khoai lang, đậu. Theo ông Lành, trong vụ đông xuân, nguồn nước ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng của cây trồng và hiệu quả của mùa vụ. Ông Lành cho biết: “Những năm về trước, dòng nước dưới sông chảy ổn định suốt bốn mùa. Gần đây, vào mùa khô, mực nước rút xa bờ nên bơm tưới gặp khó khăn, có khi đợi đến 1 - 2 giờ sáng mới lấy được nước cho cây trồng”.
![]() |
| Từ dòng sông, nước được các trạm bơm đưa qua hệ thống kênh, dẫn về những cánh đồng phục vụ sản xuất |
Không chỉ ông Lành, với những người sản xuất ven sông, điều bà con cần là nguồn nước có thể được tiếp cận đúng thời điểm, đủ cho sản xuất và ổn định trong suốt mùa vụ. Trong khi đó, nguồn nước trên sông Krông Nô còn phải đáp ứng nhiều nhu cầu khác.
Theo phương án phân bổ nguồn nước, nguồn nước được phân bổ không đều trong khi nhu cầu sử dụng ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Vì thế, lượng trữ nước tại các công trình thủy lợi, thủy điện có thể không đạt thiết kế trong những năm nắng nóng kéo dài.
Hiện, trên các lưu vực sông, dòng chảy đang trực tiếp tạo ra giá trị cho sản xuất và đời sống. Nước được đưa vào hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, tạo nguồn cho các hồ thủy điện… Riêng lưu vực sông Sêrêpốk, mùa khô năm 2026, các hồ thủy điện cần khoảng 16,1 m3 nước vận hành phát điện; nhu cầu nước cho nông nghiệp khoảng 1,419 tỷ m3. Như vậy, một dòng sông đang phục vụ cùng một lúc nhiều lĩnh vực, tạo ra giá trị kinh tế và đời sống.
![]() |
| Không chỉ cung cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt và phát điện, sông Sêrêpốk còn tạo điều kiện cho giao thông đường thủy và các hoạt động kinh tế gắn với mặt nước |

Tuy nhiên, trên lưu vực sông Srêpốk, nguy cơ thiếu nước được xác định ở một số khu vực thuộc các tiểu vùng thượng lưu, hạ lưu Krông Nô và vùng thượng, hạ lưu Sêrêpốk. Nơi tập trung nhu cầu sử dụng nước cao cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và các hoạt động kinh tế khác.
![]() |
| Hoạt động nuôi cá lồng bè trên sông Krông Nô |
Giới hạn của những dòng sông
Theo kịch bản nguồn nước mùa cạn năm 2026, dòng chảy đến các hồ Đơn Dương, Đại Ninh trên lưu vực sông Đồng Nai những tháng đầu năm nhìn chung cao hơn trung bình giai đoạn 2015 - 2025. Trên lưu vực sông Sêrêpốk, dòng chảy đến hồ Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp cũng được tính toán ở mức cao hơn trung bình nhiều năm khoảng 10 - 15%. Tuy nhiên, dòng chảy của một con sông không phải lúc nào cũng đáp ứng giống nhau ở mọi khu vực và thời điểm.
Thực tế, lượng nước trên sông biến động theo mùa, trong khi nhu cầu sử dụng lại có những thời điểm tăng cao. Trên lưu vực sông Sêrêpốk, nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp trong mùa cạn 2026 khoảng 2 tỷ m3. Trong thực tế mùa khô, tình trạng thiếu nước cục bộ vẫn diễn ra tại một số khu vực thuộc thượng, hạ lưu Krông Nô, Sêrêpốk, nhất là những nơi nằm ngoài phạm vi phục vụ của các công trình lớn.
![]() |
| Việc khai thác dòng sông cho nhiều mục đích đang tạo áp lực ngày càng lớn lên nguồn nước và hệ sinh thái ven sông |
Tính đến ngày 15/8/2026, tổng dung tích nước tại các hồ chứa trên địa bàn đạt 461,47 triệu m3, bằng 50,8% dung tích thiết kế. Cùng thời điểm, tỉnh vẫn ghi nhận mưa trên diện rộng nhưng lượng mưa phân bố không đồng đều. Cùng với đó, El Nino được dự báo có thể đạt cường độ mạnh, làm gia tăng nguy cơ thiếu nước mùa khô 2026 - 2027. Khi dòng chảy suy giảm trong thời gian dài, áp lực lên khả năng cung cấp nước cho hạ lưu sẽ gia tăng, nhất là tại những nơi nhu cầu sử dụng nước cao.
Khi sản xuất và các hoạt động sử dụng nước tiếp tục mở rộng, việc xác định khả năng đáp ứng của từng dòng sông theo mùa, theo khu vực sẽ quyết định quy mô khai thác phù hợp. Khi đó, dòng sông mới có thể tạo ra giá trị cho phát triển mà không trở thành “điểm nghẽn” đối với những nhu cầu khác trên cùng lưu vực.
![]() |
| Bên cạnh nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, dòng chảy trên một số con sông cũng có những biến động bất thường, làm gia tăng xói mòn, sạt lở dọc hai bên bờ |
Định hướng của tỉnh là khai thác theo khả năng đáp ứng của nguồn nước; tăng cường điều hòa, phân phối dòng chảy, nâng cao năng lực tích trữ và vận hành công trình; ưu tiên nước sinh hoạt, sản xuất và các khu vực thiếu nước. Đồng thời, bảo vệ nguồn sinh thủy, hiện đại hóa quan trắc và chủ động ứng phó với biến động thời tiết, thủy văn.
| Lâm Đồng có mạng lưới sông, suối phong phú, với các hệ thống sông Đồng Nai, Srêpốk và nhiều phụ lưu như Đa Nhim, Đạ Dâng, La Ngà. Tổng lượng nước mặt tự nhiên của tỉnh khoảng 17,5 tỷ m³/năm, tạo nền tảng quan trọng cho sản xuất, dân sinh và phát triển kinh tế. |
Nguồn: Để dòng sông trở thành nguồn lực phát triển
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Để dòng sông trở thành nguồn lực phát triển
Đọc nhiều








