Giá nông sản hôm nay 17/6: Cà phê tăng - giảm trái chiều, hồ tiêu đi ngang, gạo xuất khẩu đảo chiều tăng nhẹ
| Giá nông sản hôm nay 16/6: Hồ tiêu đi ngang, cà phê neo cao, lúa gạo giao dịch chậm Giá nông sản hôm nay 15/6: Cà phê tiến sát mốc 90.000 đồng/kg, hồ tiêu phục hồi, lúa gạo trầm lắng |
Giá cà phê thế giới trái chiều, cà phê nội địa lùi về dưới 90.000 đồng/kg
Trên thị trường thế giới, giá cà phê diễn biến trái chiều giữa hai dòng sản phẩm chủ lực. Tại sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn giao tháng 7/2026 tăng 0,47%, tương đương tăng 15 USD/tấn, lên mức 3.624 USD/tấn. Trong khi đó, trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 7/2026 giảm nhẹ 0,08%, tương đương giảm 0,2 US cent/lb, xuống còn 262,75 US cent/lb.
Đà tăng của Robusta được hỗ trợ bởi lực mua bù vị thế bán khống cùng những lo ngại về tiến độ thu hoạch tại Brazil khi mưa lớn kéo dài tại các vùng sản xuất trọng điểm. Nhiều chuyên gia nhận định độ ẩm cao bất thường trong giai đoạn thu hoạch có thể ảnh hưởng đến chất lượng hạt cà phê cũng như làm gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh trên cây trồng.
Ở chiều ngược lại, Arabica vẫn chịu áp lực từ triển vọng nguồn cung cải thiện. Theo các tổ chức nghiên cứu thị trường, sản lượng cà phê Brazil niên vụ 2026/27 có thể đạt mức kỷ lục khoảng 71,4 triệu bao, tăng 11,5% so với vụ trước, trong đó Arabica tăng 13,5% và Robusta tăng 7,6%.
![]() |
Tại thị trường trong nước, giá cà phê nhân xô giảm từ 200 - 400 đồng/kg so với phiên trước, dao động trong khoảng 89.000 - 89.300 đồng/kg. Tại Lâm Đồng, giá thu mua phổ biến ở mức 89.000 - 89.300 đồng/kg, giảm mạnh nhất khoảng 400 đồng/kg. Đắk Lắk, Gia Lai và Quảng Ngãi cùng ghi nhận mức giá khoảng 89.300 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg. Đây cũng là mức giá cao nhất trên thị trường nội địa hiện nay.
Giá hồ tiêu duy trì ổn định trong vùng 138.000 - 140.500 đồng/kg
Giá hồ tiêu trong nước hôm nay nhìn chung không có nhiều biến động, tiếp tục dao động trong khoảng từ 138.000 - 140.500 đồng/kg.
Đắk Lắk vẫn là địa phương có giá thu mua cao nhất cả nước, đạt 140.500 đồng/kg. Đắk Nông được giao dịch quanh mức 140.000 đồng/kg. Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, giá tiêu giữ ở mức 139.500 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai, Bình Phước và Đồng Nai cùng ghi nhận mức giá thấp hơn, khoảng 138.000 đồng/kg.
![]() |
Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tiếp tục đi ngang. Theo số liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia được chào bán ở mức 7.137 USD/tấn; tiêu đen Brazil loại ASTA 570 ở mức 5.950 USD/tấn; tiêu đen Malaysia đạt 9.350 USD/tấn. Đối với tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam, giá giữ ổn định trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn tùy chủng loại.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia được giao dịch ở mức 9.211 USD/tấn; tiêu trắng Malaysia duy trì ở ngưỡng 12.250 USD/tấn, cao nhất thế giới; còn tiêu trắng Việt Nam được chào bán quanh mức 9.000 USD/tấn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 126.800 tấn hồ tiêu, thu về 819,7 triệu USD, tăng 27% về lượng và tăng 18,8% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân giảm 6,5%, xuống còn khoảng 6.463 USD/tấn.
Giá gạo xuất khẩu tăng nhẹ, thị trường trong nước đi ngang
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo hôm nay ít biến động, giao dịch mua bán diễn ra chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL555 dao động từ 9.100 - 9.200 đồng/kg; gạo IR50404 ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo OM5451 đạt 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo OM18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 từ 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM380 và Sóc Thơm cùng được giao dịch trong khoảng 7.500 - 7.600 đồng/kg, trong khi gạo thành phẩm IR50404 đạt 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, giá gạo duy trì ổn định. Gạo Nàng Nhen tiếp tục là mặt hàng có giá cao nhất với khoảng 28.000 đồng/kg. Gạo Nhật được bán ở mức 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài khoảng 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài từ 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan khoảng 20.000 đồng/kg. Gạo trắng thông dụng dao động 16.000 đồng/kg, trong khi gạo thường phổ biến ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.
![]() |
Đối với mặt hàng lúa tươi, lúa OM18 và Đài Thơm 8 cùng được thu mua ở mức 6.400 - 6.500 đồng/kg. Lúa OM5451 dao động 5.700 - 5.800 đồng/kg; lúa IR50404 từ 5.500 - 5.600 đồng/kg; còn lúa OM34 ở mức 5.100 - 5.200 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đã đảo chiều tăng nhẹ. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 504 - 508 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 485 - 490 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm tăng thêm 1 USD/tấn, lên mức 343 - 347 USD/tấn.
Xu hướng tăng cũng xuất hiện tại nhiều nước xuất khẩu lớn ở châu Á. Giá gạo 5% tấm của Thái Lan tăng 3 USD/tấn, lên mức 468 - 473 USD/tấn; gạo 100% tấm đạt 414 - 418 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm tăng 1 USD/tấn lên 347 - 351 USD/tấn, còn gạo 100% tấm được chào bán ở mức 280 - 284 USD/tấn.
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Thái Nguyên khẳng định giá trị OCOP bằng chất lượng bền vững
Giá vàng ngày 17/6: Tiếp tục tăng mạnh
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 17/6: Đồng bạc xanh suy yếu
Giá nông sản hôm nay 17/6: Cà phê tăng - giảm trái chiều, hồ tiêu đi ngang, gạo xuất khẩu đảo chiều tăng nhẹ



