Giá nông sản hôm nay 2/11: Cà phê, hồ tiêu tiếp tục giảm, lúa gạo đi ngang
| Giá nông sản hôm nay 31/10: Cà phê rơi xuống 87.000 đồng/kg, hồ tiêu lao dốc Giá nông sản hôm nay 30/10: Cà phê xuống đáy 4,5 tháng, gạo xuất khẩu tăng mạnh |
Giá cà phê xuống thấp nhất gần 5 tháng, arabica giảm mạnh
Thị trường cà phê trong nước bước vào đầu tháng 11 với diễn biến kém tích cực khi giá thu mua tại các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục giảm. Giá cà phê đồng loạt đi xuống tại các địa phương sản xuất trọng điểm, đánh dấu tuần giảm thứ tư liên tiếp.
Cụ thể, tại Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), giá cà phê cùng được thu mua ở mức 87.000 đồng/kg. Tại Gia Lai, giá ở mức 86.800 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có mức giá thấp nhất trong nhóm khảo sát, với 86.500 đồng/kg.
Như vậy, giá cà phê trong nước đã lùi về vùng thấp nhất trong gần 5 tháng, trong bối cảnh vụ thu hoạch mới tại Tây Nguyên bắt đầu. Theo Reuters và Barchart, hoạt động thu hoạch đã được triển khai nhưng lượng hàng mới đưa ra thị trường vẫn còn hạn chế. Nguồn cung được dự báo tăng rõ rệt hơn trong tháng 11, khi hoạt động thu hái bước vào giai đoạn cao điểm.
Giá thu mua giảm khiến một bộ phận nông dân thận trọng hơn trong việc bán hàng. Một số hộ trồng cà phê chưa muốn đẩy nhanh tiến độ thu hái và phơi sấy khi giá thị trường xuống thấp. Bên cạnh đó, thời tiết bất lợi trong giai đoạn đầu năm được phản ánh có thể ảnh hưởng đến chất lượng một phần sản lượng, khiến hạt cà phê nhỏ hơn hoặc có màu sắc sẫm hơn.

Trên thị trường quốc tế, giá cà phê tuần qua tiếp tục phân hóa nhưng xu hướng giảm chiếm ưu thế tại cả hai sàn giao dịch lớn. Tại sàn London, giá robusta kỳ hạn tháng 11/2026 đóng cửa tuần ở mức 3.219 USD/tấn, giảm 9 USD/tấn, tương đương 0,3% so với tuần trước. Hợp đồng giao tháng 1/2027 giảm 38 USD/tấn, tương đương 1,2%, xuống còn 3.204 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá arabica chịu áp lực mạnh hơn. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 20,3 US cent/pound, tương đương 6,6%, xuống còn 287,2 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 giảm 16,6 US cent/pound, tương đương 5,7%, còn 276,8 US cent/pound.
Theo Reuters và Barchart, triển vọng nguồn cung cải thiện, biến động tỷ giá tại Brazil và lượng cà phê đưa vào các kho của sàn ICE gia tăng là những yếu tố gây sức ép lên giá. Đáng chú ý, đồng real Brazil suy yếu trong tuần qua tạo thêm động lực để các doanh nghiệp xuất khẩu nước này đẩy mạnh bán hàng. Khi đồng nội tệ mất giá so với USD, doanh thu xuất khẩu quy đổi sang đồng real có thể tăng lên, qua đó khuyến khích hoạt động bán hàng và giao dịch phòng hộ.
Bên cạnh yếu tố tỷ giá, tồn kho cà phê tại các kho được sàn ICE công nhận cũng có dấu hiệu cải thiện. Theo dữ liệu công bố cuối tuần, có 47.476 bao cà phê Brazil đang chờ phân loại hoặc kiểm định chất lượng. Đây là mức cao nhất trong 6 tuần. Sau khi đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định, lượng hàng này có thể được bổ sung vào tồn kho được chứng nhận của sàn.
Tính đến cuối tuần, lượng cà phê Brazil tại các kho ICE đạt 83.052 bao, cao nhất trong 9 tháng. Tồn kho arabica được ICE chứng nhận đạt 225.068 bao, tăng 3.033 bao so với mức 222.035 bao trước đó. Dù phục hồi nhẹ, lượng tồn kho này vẫn chỉ cao hơn không nhiều so với đáy 27 năm là 217.646 bao ghi nhận ngày 15/9.
Đối với robusta, tồn kho trên sàn ICE cũng tăng mạnh từ đầu tháng 10, đạt 6.809 lô trong phiên thứ Năm trước khi giảm nhẹ về 6.763 lô vào thứ Sáu.
Ở chiều ngược lại, thị trường robusta tại Indonesia ghi nhận mức chào bán cộng thêm tăng so với hợp đồng kỳ hạn tham chiếu. Một số thương nhân chào bán robusta Sumatra với mức cộng 220 USD/tấn so với hợp đồng tháng 11, cao hơn mức 165 - 200 USD/tấn của tuần trước. Một thương nhân khác đưa ra mức cộng 300 USD/tấn so với hợp đồng tháng 1/2027, tăng từ mức 230 USD/tấn trước đó.
Trong ngắn hạn, giá cà phê trong nước được dự báo tiếp tục chịu tác động từ tiến độ thu hoạch tại Tây Nguyên, diễn biến tỷ giá đồng real Brazil và biến động trên hai sàn London, New York. Việc nguồn cung vụ mới gia tăng trong tháng 11 sẽ là yếu tố đáng chú ý đối với xu hướng giá.
Giá hồ tiêu giảm, xuất khẩu 9 tháng đạt hơn 1,41 tỷ USD
Cùng với cà phê, giá hồ tiêu trong nước sáng 2/11 tiếp tục đi xuống, nối dài xu hướng giảm xuất hiện từ cuối tháng 10. Theo khảo sát tại các địa phương sản xuất trọng điểm, giá tiêu đồng loạt giảm 1.000 đồng/kg so với phiên trước, hiện dao động trong khoảng 134.000 - 136.500 đồng/kg.
Cụ thể, tại Đắk Lắk, giá tiêu được thu mua ở mức 136.500 đồng/kg, cao nhất trong các địa phương khảo sát. Tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), giá giảm về 135.500 đồng/kg. Ở khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM), giá tiêu xuống còn 134.500 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và khu vực Bình Phước (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) cùng ghi nhận mức 134.000 đồng/kg, thấp nhất thị trường.
Tính chung tuần qua, giá tiêu trong nước đã giảm từ 3.000 - 3.500 đồng/kg tại một số địa phương. Đáng chú ý, Đắk Lắk giảm từ 140.000 đồng/kg xuống 136.500 đồng/kg. Bà Rịa - Vũng Tàu, Gia Lai và Bình Phước cũng ghi nhận mức giảm khoảng 3.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tuần qua giảm tại Indonesia và Brazil, trong khi giá chào bán của Việt Nam và Malaysia tương đối ổn định. Theo dữ liệu từ Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia giảm 50 USD/tấn, tương đương 0,73%, xuống còn 6.800 USD/tấn. Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 giảm 100 USD/tấn, tương đương 1,72%, về mức 5.700 USD/tấn.
Ngược lại, giá tiêu đen Malaysia duy trì ở mức 9.100 USD/tấn. Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l được niêm yết ở mức 5.950 USD/tấn, loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn, không thay đổi so với tuần trước.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu Muntok Indonesia giảm 68 USD/tấn, xuống còn 9.286 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu trắng Malaysia giữ mức 12.000 USD/tấn và tiêu trắng Việt Nam ổn định ở mức 8.450 USD/tấn.
Trái với diễn biến giảm của giá thu mua trong nước, hoạt động xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam vẫn ghi nhận kết quả tích cực. Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), dẫn số liệu của Cục Hải quan, trong tháng 9/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 25.150 tấn hồ tiêu, thu về 163,5 triệu USD. So với tháng trước, lượng xuất khẩu tăng 10,6% và kim ngạch tăng 10,8%. So với cùng kỳ năm 2025, sản lượng tăng 23,4%, trong khi giá trị tăng 20,4%.
Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hồ tiêu đạt 216.660 tấn, tương ứng kim ngạch khoảng 1,41 tỷ USD, tăng 16,2% về lượng và 11,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân vẫn chịu áp lực. Trong tháng 9, giá xuất khẩu đạt 6.501 USD/tấn, tăng nhẹ 0,1% so với tháng 8 nhưng giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, mức giá bình quân đạt 6.509 USD/tấn, giảm 4,1%. Như vậy, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu chủ yếu đến từ sự gia tăng về sản lượng, trong khi giá bán bình quân chưa phục hồi so với năm 2025.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam. Trong tháng 9/2026, xuất khẩu sang thị trường này đạt khoảng 6.600 tấn, trị giá 46,16 triệu USD, tăng 44% về lượng và 39,5% về trị giá so với cùng kỳ.
Tính chung 9 tháng, Hoa Kỳ nhập khẩu 52.740 tấn hồ tiêu từ Việt Nam, chiếm 24,34% tổng lượng xuất khẩu, tăng so với tỷ trọng 22,4% của cùng kỳ năm trước. Lượng xuất khẩu sang thị trường này tăng 26,3%, còn kim ngạch tăng 21,4%.
Ngoài Hoa Kỳ, nhiều thị trường cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực về lượng như Thổ Nhĩ Kỳ tăng 84,3%, Thái Lan tăng 58,5%, Hà Lan tăng 20,6%, Ai Cập tăng 19,3% và Philippines tăng 16,4%. Ở chiều ngược lại, xuất khẩu hồ tiêu sang Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất giảm 26,4%, Ấn Độ giảm 20,8%, Đức giảm 15% và Anh giảm 14,1%.
Giá lúa gạo ổn định, xuất khẩu 10 tháng giảm so với cùng kỳ
Trái với xu hướng giảm của cà phê và hồ tiêu, thị trường lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày 2/11 tương đối ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 9.050 - 9.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 ở mức 9.000 - 9.200 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 5451 được giao dịch trong khoảng 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg. Trong khi đó, gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg. Gạo Đài Thơm 8 được bán với giá 17.000 - 18.000 đồng/kg, gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg, gạo thường và gạo Sóc thường cùng dao động 14.000 - 15.000 đồng/kg. Giá gạo thơm Jasmine ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg, còn OM 18 dao động 15.000 - 16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp cũng ổn định. Giá nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng dao động 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, lúa tươi Đài Thơm 8 được thu mua ở mức 6.500 - 6.700 đồng/kg; IR 50404 dao động 6.100 - 6.200 đồng/kg; OM 18 ở mức 6.500 - 6.650 đồng/kg. Lúa tươi DS1 có giá 6.800 - 7.000 đồng/kg; OM 34 ở mức 5.900 - 6.100 đồng/kg và OM 5451 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán trong khoảng 500 - 515 USD/tấn; gạo thơm 100%
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 2/11: Cà phê, hồ tiêu tiếp tục giảm, lúa gạo đi ngang
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Tuyên Quang: Phát huy giá trị vùng chè, mở rộng tiềm năng du lịch La Bằng
Mở rộng vùng nuôi tôm công nghệ cao, gia tăng giá trị ngành thủy sản
Tăng trưởng của Việt Nam định hình lại bảng xếp hạng kinh tế Đông Nam Á
Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong chế biến cà phê
Tăng cường chủ động phòng, chống, ứng phó với các loại hình thiên tai do ảnh hưởng của El Nino
Đọc nhiều


