Giá nông sản hôm nay 30/10: Cà phê xuống đáy 4,5 tháng, gạo xuất khẩu tăng mạnh
| Giá nông sản hôm nay 29/10: Cà phê phục hồi, hồ tiêu đi ngang, gạo Jasmine tăng giá Giá nông sản hôm nay 28/10: Cà phê, hồ tiêu giảm, giá gạo xuất khẩu tăng |
Giá tiêu hôm nay 30/10: Ổn định, cao nhất 140.000 đồng/kg
Thị trường hồ tiêu trong nước ngày 30/10/2026 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Theo khảo sát, giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm dao động trong khoảng 137.000 - 140.000 đồng/kg, không thay đổi so với phiên trước.
Cụ thể, Đắk Lắk tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất trong nhóm khảo sát, đạt 140.000 đồng/kg. Tại khu vực Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, giá tiêu duy trì mức 139.000 đồng/kg, thấp hơn Đắk Lắk 1.000 đồng/kg.
Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP.HCM, ghi nhận mức giao dịch 137.500 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và khu vực Bình Phước, nay thuộc tỉnh Đồng Nai, cùng giữ giá 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Việc giá tiêu tiếp tục đi ngang cho thấy thị trường trong nước chưa xuất hiện biến động đáng kể về cung cầu. Hoạt động thu mua và lượng hàng chào bán vẫn là những yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến giá trong thời gian tới.

Trên thị trường thế giới, dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy giá tiêu tại các quốc gia xuất khẩu chủ chốt tiếp tục ít biến động.
Đối với tiêu đen, Malaysia duy trì mức chào bán 9.100 USD/tấn, cao nhất trong nhóm thị trường được khảo sát. Indonesia giữ mức 6.850 USD/tấn, trong khi tiêu đen Brazil loại ASTA 570 đạt 5.800 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l được chào bán ở mức 5.950 USD/tấn, còn loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu Muntok Indonesia duy trì mức 9.354 USD/tấn. Malaysia giữ giá 12.000 USD/tấn, còn Việt Nam đạt 8.450 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường hồ tiêu trong nước và quốc tế vẫn duy trì trạng thái ổn định. Nhu cầu nhập khẩu, nguồn cung tại các quốc gia sản xuất lớn và hoạt động giao dịch xuất khẩu sẽ tiếp tục tác động đến xu hướng giá trong thời gian tới.
Giá cà phê hôm nay 30/10: Giảm xuống mức thấp nhất trong 4,5 tháng
Giá cà phê hôm nay 30/10/2026 tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt giảm 500 - 800 đồng/kg so với phiên trước, xuống còn 88.000 - 88.500 đồng/kg. Đây là vùng giá thấp nhất trong khoảng 4,5 tháng, kể từ ngày 12/6/2026.
Cụ thể, tại khu vực Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, giá cà phê giảm mạnh nhất, với mức điều chỉnh 800 đồng/kg, xuống còn 88.500 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk, giá thu mua giảm 700 đồng/kg, còn 88.300 đồng/kg. Gia Lai giảm 600 đồng/kg, xuống mức 88.400 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng giảm 500 đồng/kg, đưa giá cà phê về 88.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.

Đà giảm tiếp tục gây sức ép lên thị trường cà phê trong nước, đặc biệt trong bối cảnh vụ thu hoạch mới đang diễn ra. Triển vọng nguồn cung được cải thiện cùng diễn biến suy yếu của giá kỳ hạn quốc tế khiến thị trường chưa có tín hiệu phục hồi rõ rệt.
Trên sàn London, giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 11/2026 giảm 40 USD/tấn, tương đương 1,23%, xuống còn 3.200 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 giảm 21 USD/tấn, tương đương 0,65%, còn 3.199 USD/tấn.
Tại sàn New York, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2026 giảm 7 US cent/pound, tương đương 2,38%, xuống còn 286,75 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 giảm 4,9 US cent/pound, tương đương 1,74%, còn 276,2 US cent/pound.
Theo Reuters và Barchart trong tài liệu nguồn, giá cà phê kỳ hạn trên sàn ICE đã giảm xuống mức thấp nhất trong khoảng 2,5 tuần, khi triển vọng nguồn cung được cải thiện và đồng real Brazil tiếp tục suy yếu.
Trong thời gian tới, tiến độ thu hoạch tại Việt Nam, triển vọng sản lượng tại Brazil, biến động tỷ giá và nhu cầu tiêu thụ sẽ tiếp tục là những yếu tố quan trọng chi phối thị trường cà phê.
Giá lúa gạo hôm nay 30/10: ít biến động, gạo xuất khẩu tăng mạnh
Thị trường lúa gạo ngày 30/10 tại Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động, giao dịch mua bán còn trầm lắng. Trong khi giá lúa tươi, gạo bán lẻ và mặt hàng nếp duy trì ổn định, giá gạo xuất khẩu Việt Nam tăng mạnh ở nhiều chủng loại.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi Đài Thơm 8 dao động trong khoảng 6.400 - 6.500 đồng/kg; lúa IR 50404 ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg; lúa OM 5451 dao động 6.100 - 6.300 đồng/kg.
Các chủng loại khác gồm OM 18 ở mức 6.400 - 6.600 đồng/kg, DS1 dao động 6.600 - 6.700 đồng/kg và OM 34 ở mức 5.900 - 6.000 đồng/kg.
Tại các địa phương, giao dịch mua bán nhìn chung trầm lắng, giá lúa ít biến động. Riêng An Giang ghi nhận hoạt động mua bán chậm. Tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long và Cà Mau, nông dân tiếp tục neo giá cao, trong khi lượng giao dịch chưa có chuyển biến đáng kể.
Đối với gạo nguyên liệu xuất khẩu, giá IR 504 dao động 9.050 - 9.200 đồng/kg; CL 555 ở mức 9.000 - 9.200 đồng/kg. Gạo OM 5451 duy trì mức 9.300 - 9.400 đồng/kg, OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg và Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Trong khi đó, gạo OM 380 và Sóc Thơm cùng được giao dịch trong khoảng 7.500 - 7.600 đồng/kg. Với nhóm phụ phẩm, giá dao động khoảng 7.800 - 10.000 đồng/kg. Trong đó, tấm ở mức 9.400 - 9.500 đồng/kg, còn cám dao động 7.800 - 8.200 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo không ghi nhận biến động mới. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài được bán với giá 22.000 đồng/kg, gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg và gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg.
Gạo trắng thông dụng có giá 16.000 đồng/kg, gạo thường dao động 14.000 - 15.000 đồng/kg, còn gạo Sóc thường ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg. Gạo thơm Jasmine được bán với giá 17.000 - 18.000 đồng/kg.
Đối với các chủng loại khác, gạo Đài Thơm 8 dao động 15.500 - 16.000 đồng/kg, gạo OM 18 ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg. Gạo Sóc Thái có giá 20.000 đồng/kg, trong khi gạo Nhật được bán ở mức 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định so với phiên trước. Giá nếp 3 tháng khô dao động 9.600 - 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng được giao dịch trong khoảng 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tăng đáng kể ở nhiều chủng loại. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 500 - 515 USD/tấn, tăng 15 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm được chào bán ở mức 390 - 394 USD/tấn, tăng 4 USD/tấn. Giá gạo Jasmine đạt 535 - 539 USD/tấn, tăng 8 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm tăng 1 USD/tấn, lên mức 475 - 479 USD/tấn. Gạo 100% tấm tăng 7 USD/tấn, dao động 407 - 411 USD/tấn. Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm dao động 385 - 389 USD/tấn. Trong khi đó, gạo 100% tấm tăng 3 USD/tấn, lên mức 330 - 334 USD/tấn.
Diễn biến trên cho thấy giá gạo xuất khẩu Việt Nam đang có bước tăng đáng chú ý, đặc biệt ở phân khúc gạo thơm. Tuy nhiên, thị trường nội địa vẫn trầm lắng, cho thấy mức độ phục hồi chưa đồng đều giữa các khâu trong chuỗi cung ứng.
Trong thời gian tới, nhu cầu nhập khẩu, khả năng cạnh tranh về giá và nguồn cung tại các quốc gia xuất khẩu lớn sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến diễn biến thị trường lúa gạo.
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 30/10: Cà phê xuống đáy 4,5 tháng, gạo xuất khẩu tăng mạnh
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Vai trò của báo điện tử trong kiến tạo thực hành văn hoá yêu nước của giới trẻ qua hiện tượng Concert “Tổ quốc trong tim”
Phát triển năng lực đội ngũ lãnh đạo, quản lý khu vực công trong bối cảnh mới
Điểm tin xây dựng - bất động sản ngày 30/10: Thái Nguyên khởi công khu công nghiệp gần 500 ha
Nhận định thị trường chứng khoán ngày 30/10: Chỉ mở vị thế mua thăm dò khi VN Index chạm 1.740 điểm
Giá nông sản hôm nay 30/10: Cà phê xuống đáy 4,5 tháng, gạo xuất khẩu tăng mạnh


