Giá nông sản hôm nay 28/9: Cà phê phục hồi, hồ tiêu giảm, lúa gạo ít biến động
| Giá nông sản hôm nay 26/9: Tiêu đi ngang, cà phê quay đầu giảm, lúa gạo biến động nhẹ Giá nông sản hôm nay 25/9: Cà phê tăng mạnh, hồ tiêu giảm, lúa gạo phân hóa |
Giá cà phê phục hồi mạnh
Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên dao động 93.000–93.800 đồng/kg, gần trở lại vùng 94.000 đồng/kg sau nhịp giảm mạnh giữa tuần. Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục có mức thu mua cao nhất khu vực, đạt 93.800 đồng/kg; Đắk Lắk và Gia Lai cùng ở mức 93.600 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng ở mức 93.000 đồng/kg.
Nếu xét cả tuần, giá cà phê trong nước gần như trở lại mặt bằng cuối tuần trước nhưng đã trải qua biên độ dao động khá lớn. Ngày 24/9, giá từng giảm xuống 91.200–92.000 đồng/kg, mức thấp nhất trong gần ba tháng, trước khi phục hồi trong những phiên cuối tuần. Trên thị trường quốc tế, đồng USD suy yếu cùng hoạt động mua bù vị thế bán khống của các quỹ đã hỗ trợ giá Robusta và Arabica trong phiên cuối tuần.
Trên sàn London, Robusta giao tháng 11/2026 chốt phiên ở 3.367 USD/tấn, giảm 29 USD/tấn, tương đương 0,9% so với cuối tuần trước; hợp đồng tháng 1/2027 giảm 31 USD/tấn, tương đương khoảng 0,9%, xuống 3.342 USD/tấn. Tuy nhiên, riêng phiên cuối tuần, Robusta tháng 11 tăng 77 USD/tấn, tương đương 2,34%, còn hợp đồng tháng 1 tăng 70 USD/tấn.
Tại New York, Arabica giao tháng 12/2026 giảm 1,9 US cent/pound trong cả tuần, xuống 278,60 US cent/pound, trong khi hợp đồng tháng 3/2027 giảm 0,7 US cent/pound, còn 271,25 US cent/pound. Trong phiên cuối tuần, Arabica tháng 12 tăng hơn 1% khi đồng USD suy yếu thúc đẩy hoạt động mua vào của các quỹ.

Trong nước, giao dịch Robusta được cho là khá trầm lắng khi thị trường chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch mới. Robusta Việt Nam loại 2, tỷ lệ đen và vỡ 5% được chào bán với mức cộng khoảng 200 USD/tấn so với hợp đồng tháng 11 trên sàn London. Tại Indonesia, mức cộng đối với Robusta Sumatra phân hóa giữa các lô hàng, với một mức chào cho hàng giao tháng 10 khoảng 180 USD/tấn và một mức khác khoảng 280 USD/tấn so với hợp đồng tháng 11.
Về nguồn cung, Brazil tiếp tục là yếu tố được thị trường quan tâm khi Conab dự báo sản lượng cà phê nước này năm 2026 đạt 67,6 triệu bao loại 60 kg, tăng 19,6% so với năm 2025 và là mức cao nhất trong chuỗi số liệu của cơ quan này. Diện tích cà phê đang cho thu hoạch dự kiến đạt khoảng 1,95 triệu ha, tăng 5,1%, còn năng suất bình quân đạt 34,6 bao/ha, tăng 13,8%.
Trong tổng sản lượng trên, Arabica được dự báo đạt 48,2 triệu bao, tăng 34,8%, trong khi Conilon, tương đương Robusta, đạt khoảng 19,4 triệu bao, giảm 6,6% so với mức kỷ lục của năm trước. Xuất khẩu cà phê Brazil trong tháng 8/2026 cũng đạt 3,8 triệu bao loại 60 kg, tăng 43,2% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất từng ghi nhận trong tháng này.
Giá hồ tiêu giảm khoảng 1.000 đồng/kg
Trái với diễn biến phục hồi của cà phê, giá hồ tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm giảm khoảng 1.000 đồng/kg so với cuối tuần trước, dao động 136.000–140.000 đồng/kg. Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục có mức giá cao nhất với 140.000 đồng/kg, tiếp đến là Đắk Lắk 138.000 đồng/kg; khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu cũ thuộc TP. Hồ Chí Minh ở mức 136.500 đồng/kg, còn Gia Lai và Đồng Nai cùng ở mức 136.000 đồng/kg.
Diễn biến giảm tập trung vào giữa tuần khi ngày 24/9, giá tiêu tại nhiều vùng trồng đồng loạt giảm 500–1.000 đồng/kg. Đến ngày 25/9, Đắk Nông tiếp tục giảm thêm 500 đồng/kg, kéo mức giá cao nhất trên thị trường từ 141.000 đồng/kg xuống 140.000 đồng/kg. Những phiên cuối tuần, giá bắt đầu chững lại nhưng chưa ghi nhận nhịp phục hồi đáng kể.

Trên thị trường xuất khẩu, giá tiêu Việt Nam cũng điều chỉnh ở một số chủng loại. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l được chào bán 5.970 USD/tấn, giảm 100 USD/tấn so với cuối tuần trước, trong khi loại 550 g/l giảm 55 USD/tấn, xuống 6.075 USD/tấn. Cùng chiều, tiêu đen Indonesia giảm 58 USD/tấn, còn 6.828 USD/tấn; ngược lại, tiêu đen Brazil ASTA 570 tăng 100 USD/tấn, lên 5.850 USD/tấn, còn Malaysia giữ giá 9.250 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, Muntok của Indonesia giảm 80 USD/tấn, xuống 9.348 USD/tấn; tiêu trắng Malaysia giữ ở mức 12.150 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Việt Nam tiếp tục được giao dịch ở 8.450 USD/tấn. Diễn biến này cho thấy giá tiêu giữa các thị trường sản xuất đang có sự phân hóa trong tuần cuối tháng 9.
Hoạt động xuất khẩu vẫn duy trì kết quả tích cực. Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 190.153 tấn hồ tiêu, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Mỹ là thị trường lớn nhất với 44.349 tấn. Riêng nửa đầu tháng 9, lượng hồ tiêu xuất khẩu đạt 10.915 tấn, trị giá khoảng 70 triệu USD; lượng xuất khẩu sang Mỹ tăng 62,4% so với nửa đầu tháng trước, còn xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 34,1%.
Giá lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo sáng đầu tuần ít biến động, hoạt động mua bán khá vắng. Gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hiện ở mức 8.700–8.800 đồng/kg, IR 504 ở mức 8.650–8.750 đồng/kg, OM 5451 ở mức 9.300–9.400 đồng/kg và OM 18 ở mức 8.700–8.850 đồng/kg. Trong khi đó, gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200–9.400 đồng/kg, còn OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500–7.600 đồng/kg.
Ở thị trường lúa tươi, OM 18 và OM 5451 cùng được thu mua 6.000–6.100 đồng/kg; IR 50404 ở mức 5.900–6.000 đồng/kg; OM 34 ở mức 5.700–5.900 đồng/kg và Đài Thơm 8 ở mức 6.100–6.200 đồng/kg. Phân khúc nếp cũng không ghi nhận biến động, với nếp 3 tháng khô ở mức 9.600–9.700 đồng/kg, nếp IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng ở mức 7.300–7.500 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Nàng Nhen có giá 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000–22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg. Các loại gạo phổ biến gồm Jasmine 17.000–18.000 đồng/kg, Đài Thơm 15.500–16.000 đồng/kg, gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg, gạo thường 14.000–15.000 đồng/kg, Sóc thường 15.000–16.000 đồng/kg, Sóc Thái 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM 18 ở mức 15.500–16.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giảm ở một số chủng loại. Gạo Jasmine giảm 5 USD/tấn so với ngày hôm trước, xuống 514–518 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm giảm 2 USD/tấn, còn 420–424 USD/tấn, trong khi gạo thơm 5% tấm giữ mức 526–530 USD/tấn. Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm giảm 4 USD/tấn, xuống 466–470 USD/tấn; Pakistan giảm 3 USD/tấn, còn 422–426 USD/tấn. Ngược lại, gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ tăng 1 USD/tấn lên 382–386 USD/tấn, còn gạo đồ 5% tấm tăng 2 USD/tấn, đạt 378–382 USD/tấn.
Thị trường lúa gạo hiện diễn biến trong bối cảnh nguồn lúa Hè Thu cuối vụ giảm dần, trong khi lúa Thu Đông bắt đầu được thu hoạch và bổ sung nguồn cung. Vì vậy, hoạt động thu mua của doanh nghiệp cùng diễn biến đơn hàng xuất khẩu sẽ tiếp tục là những yếu tố được thị trường theo dõi trong những phiên tới.
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 28/9: Cà phê phục hồi, hồ tiêu giảm, lúa gạo ít biến động
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Du lịch cộng đồng tạo động lực phát triển sinh kế
Nhận định thị trường chứng khoán ngày 28/9: Duy trì tỷ trọng ở mức trung bình, tránh mua đuổi
Khan hiếm dầu động cơ, các hãng xe tìm nguồn thay thế
Xuân Son nghẹn ngào chia tay FIFA ASEAN Cup 2026
Xanh hóa công nghiệp nông thôn: Từ yêu cầu môi trường đến lợi thế thị trường
Đọc nhiều


