Hà Nội: 33°C
Thừa Thiên Huế: 30°C
Hải Phòng: 32°C
Quảng Ninh: 31°C
TP Hồ Chí Minh: 28°C

Khơi mạch văn hóa, mở lối du lịch biển

Từ định hướng giải pháp của Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt ra yêu cầu phải phát huy chiều sâu văn hóa, đưa hệ sinh thái di sản biển trở thành nguồn lực phát triển du lịch biển Việt Nam.
Khơi mạch văn hóa, mở lối du lịch biển
Du khách thưởng thức show diễn đa trải nghiệm “Nụ hôn của biển cả - Kiss of the sea” tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang. (Ảnh: SG)

Với đường bờ biển dài hơn 3.260km cùng khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, hàng trăm bãi biển đẹp, vịnh biển hoang sơ, Việt Nam là quốc gia có lợi thế tự nhiên dồi dào để phát triển du lịch biển.

Tạo lợi thế cạnh tranh bền vững

Từ Hạ Long, Cát Bà, Đà Nẵng, Nha Trang đến Phú Quốc, Côn Đảo…, nhiều điểm đến biển, đảo đã trở thành những “thỏi nam châm” thu hút khách du lịch, góp phần định vị thương hiệu du lịch địa phương. Tuy nhiên, cần khẳng định, giàu tài nguyên mới chỉ là lợi thế so sánh chứ chưa tạo lợi thế cạnh tranh bền vững. Muốn xác lập vị thế trên bản đồ du lịch biển, phải biết biến tài nguyên thành những giá trị khác biệt, có khả năng định vị sức hấp dẫn điểm đến.

Không khó nhận ra, suốt thời gian dài, du lịch biển Việt Nam chủ yếu chỉ khai thác lợi thế cảnh quan, với các sản phẩm tập trung vào tắm biển, nghỉ dưỡng, tham quan, vui chơi giải trí… Trong khi đó, di sản biển không chỉ là biển xanh, cát trắng hay di tích, kiến trúc, mà còn là hệ thống tri thức, kỹ năng, nghi lễ, ký ức, tập quán được hình thành trong quá trình con người thích nghi, ứng xử với biển. Nguồn lực văn hóa này chưa được tiếp cận, khai thác đúng mức, dẫn đến nhiều điểm đến biển dù sở hữu vẻ đẹp nổi trội vẫn bị trùng lặp về sản phẩm, chưa thể tạo dựng bản sắc riêng và khả năng cạnh tranh lâu dài.

Từ thực tế đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW đã nhấn mạnh giải pháp: “Phát triển du lịch và dịch vụ biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có thương hiệu và sức cạnh tranh quốc tế, gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa biển”. Định hướng giải pháp đã mở ra cách tiếp cận mới khi đặt yêu cầu phải chuyển từ tư duy khai thác dựa trên cảnh quan đơn thuần sang phát huy tổng thể các giá trị tự nhiên, văn hóa, lịch sử của không gian biển. Điều này cũng thống nhất với chủ trương mà Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 đã xác định, đó là xây dựng, phát triển, đa dạng hóa các sản phẩm, chuỗi sản phẩm, thương hiệu du lịch biển đẳng cấp quốc tế trên cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, phát huy giá trị di sản thiên nhiên, văn hóa, lịch sử đặc sắc của các vùng, miền.

Những năm gần đây, một số địa phương có biển ở nước ta đã chú ý hơn đến kết hợp di sản văn hóa với phát triển du lịch. Gia Lai đẩy mạnh khai thác các trải nghiệm văn hóa biển tại làng chài, tìm hiểu đời sống ngư dân, nghe kể chuyện bảo vệ rùa biển…; Khánh Hòa từng bước đưa các hoạt động như tìm hiểu không gian trưng bày lịch sử nghề yến, trải nghiệm quy trình chế biến yến vào các tuyến du lịch biển, đảo. Quảng Ngãi gắn kết không gian Lý Sơn với Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, Lễ hội đua thuyền truyền thống Tứ linh, tín ngưỡng cư dân biển…

Các yếu tố ẩm thực biển, nghề làm nước mắm, thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật dân gian ven biển hay tri thức ứng xử với biển cũng đã bắt đầu được các điểm đến tích hợp vào hành trình du lịch. Không chỉ giúp đa dạng hóa sản phẩm, hướng đi này còn góp phần khắc phục tính mùa vụ vốn là điểm nghẽn cố hữu của du lịch biển Việt Nam, đồng thời đưa cộng đồng từ vị trí lao động dịch vụ sang vị trí chủ thể nắm giữ tri thức và thực hành văn hóa biển.

Xây dựng sản phẩm theo tư duy liên vùng

Tuy nhiên, xét trên bình diện chung, nguồn lực văn hóa biển phong phú của nước ta vẫn chưa được chuyển hóa tương xứng thành năng lực cạnh tranh. Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia cho rằng, việc khai thác di sản phục vụ du lịch biển ở nhiều địa phương còn mang tính tự phát, thiếu chiến lược dài hạn; nhiều sản phẩm mới chỉ dừng ở giới thiệu, trình diễn mà chưa tạo được trải nghiệm sâu sắc. Chưa kể, không gian văn hóa của nhiều di sản biển đang bị thu hẹp; không ít loại hình đứng trước nguy cơ mai một do sự biến đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế-xã hội và quá trình đô thị hóa ven biển. Các nghệ nhân am hiểu lễ hội, tín ngưỡng, tri thức dân gian biển đã cao tuổi, trong khi một bộ phận cư dân trẻ không còn gắn bó với nghề biển và các thực hành văn hóa truyền thống… Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy từ bảo tồn sang quản trị di sản, theo hướng lấy cộng đồng làm trung tâm, gắn bảo vệ di sản với phát triển du lịch biển bền vững.

Khơi mạch văn hóa, mở lối du lịch biển
Du lịch biển Việt Nam có sức cạnh tranh lớn khi biết phát huy giá trị cảnh quan và văn hóa (Ảnh: TRANG ANH)

Để giữ chân du khách và quay lại nhiều lần, giải pháp quan trọng là chuyển hóa các giá trị di sản biển thành những sản phẩm du lịch đặc trưng, giàu trải nghiệm và có khả năng tạo giá trị gia tăng.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Kinh tế Du lịch gợi ý, có thể tập trung phát triển nhóm các sản phẩm: Du lịch kể chuyện di sản biển, với các tour chuyên đề như thương cảng Hội An, văn hóa Chăm Pa, Sa Huỳnh, con đường gốm sứ trên biển, làng nghề nước mắm, tín ngưỡng Cá Ông…; du lịch cộng đồng và làng nghề biển, kết hợp trải nghiệm sản xuất, ẩm thực, lưu trú quy mô nhỏ, học nghề, mua sản phẩm địa phương và giao lưu văn hóa; du lịch giáo dục và nghiên cứu dành cho học sinh, sinh viên, nhà nghiên cứu, khách quốc tế quan tâm đến khảo cổ, lịch sử biển, sinh thái biển, biến đổi khí hậu; du lịch sáng tạo dựa trên di sản, kết hợp nghệ thuật, thiết kế, âm nhạc, nhiếp ảnh, phim tài liệu, festival biển, sản phẩm lưu niệm, thời trang, trình diễn văn hóa; du lịch xanh gắn với bảo tồn biển, thông qua tổ chức tour không rác thải nhựa, trồng phục hồi san hô, quan sát sinh thái có hướng dẫn, lặn có trách nhiệm, du lịch tình nguyện bảo vệ môi trường biển…

Theo ông Tuấn, thay vì phát triển riêng rẽ theo ranh giới hành chính, các sản phẩm du lịch biển cần được xây dựng theo tư duy liên vùng để trở thành hành trình diễn giải di sản. Chẳng hạn, tuyến Đà Nẵng-Quảng Ngãi-Lý Sơn có thể phát triển theo chủ đề “ký ức biển đảo và văn hóa tiền cảng thị”, kết nối Nam Ô, Hội An, Sa Huỳnh, Lý Sơn, các di tích đội Hoàng Sa-Bắc Hải, văn hóa cư dân biển và ẩm thực biển, đảo. Tuyến Gia Lai-Đắk Lắk-Khánh Hòa có thể phát triển theo hướng “vịnh biển, văn hóa Chăm và đô thị biển sáng tạo”, kết nối tháp Chăm, võ cổ truyền, đầm vịnh, làng chài, lễ hội cầu ngư, bảo tàng biển, du lịch cộng đồng và trải nghiệm sinh thái…

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Lan Oanh, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam khẳng định, không phải di sản biển nào cũng nên khai thác theo cách giống nhau, vì có nơi cần ưu tiên bảo vệ không gian, ký ức cộng đồng; có nơi lại cần tập trung phát triển tuyến tham quan, trải nghiệm nghề hoặc giáo dục di sản… Việc xác định đúng giá trị cốt lõi sẽ hạn chế được tình trạng sản phẩm na ná nhau, chạy theo hình thức hoặc làm mới di sản một cách gượng ép. Bà Oanh cũng lưu ý, mọi giải pháp phải nằm trong giới hạn chịu tải của môi trường và không gian sống, bởi du lịch dựa trên nguồn lực văn hóa biển không thể bền vững khi làng chài bị bê-tông hóa, bến thuyền và không gian lễ hội bị thu hẹp, rác thải gia tăng hoặc sinh kế truyền thống mất dần.

Từ thực trạng nêu trên, có thể thấy, để phát triển du lịch biển, chúng ta cần cơ chế phối hợp liên ngành, tái đầu tư một phần nguồn thu du lịch cho bảo tồn, hỗ trợ nghệ nhân và người giữ nghề, khuyến khích hợp tác công-tư, có tiêu chí đánh giá hiệu quả từng mô hình khai thác… Đây cũng là cách hiện thực hóa Nghị quyết số 20-NQ/ TW, đưa Việt Nam trở thành điểm đến du lịch biển vừa hấp dẫn bởi cảnh quan, vừa khác biệt bởi chiều sâu văn hóa và những giá trị riêng có.

Nguồn:Khơi mạch văn hóa, mở lối du lịch biển

Hồng Trang
nhandan.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin mới nhất

Áp lực huy động vốn gia tăng, ngân hàng mở rộng các kênh dẫn vốn

Áp lực huy động vốn gia tăng, ngân hàng mở rộng các kênh dẫn vốn
Tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi đang tạo sức ép lên thanh khoản, buộc các ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn qua trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các khoản vay quốc tế…

Thái Nguyên: Giữ lửa La Bằng, bồi đắp niềm tin của nhân dân

Thái Nguyên: Giữ lửa La Bằng, bồi đắp niềm tin của nhân dân
Cuối năm 1936, tại xóm Lau Sau, xã La Bằng, 4 người nông dân dân tộc Nùng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, đặt nền móng cho cơ sở Đảng đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên. Từ ngôi nhà lá giữa núi rừng năm ấy, cơ sở cách mạng từng bước được gây dựng, phát triển và lan tỏa. 90 năm nhìn lại, giá trị của ngọn lửa La Bằng không chỉ nằm ở dấu mốc lịch sử, mà còn ở bài học về cách xây dựng tổ chức Đảng từ cơ sở, dựa vào dân và vì lợi ích của nhân dân.

Điều tiết dung tích hồ chứa nước, chủ động phòng, chống lũ

Điều tiết dung tích hồ chứa nước, chủ động phòng, chống lũ
UBND TP. HCM vừa phê duyệt phương án tích nước đối với các hồ chứa nước trên địa bàn với mục tiêu bảo đảm an toàn công trình, dung tích phòng lũ, chống ngập hạ du và đáp ứng yêu cầu cấp nước.

Khơi mạch văn hóa, mở lối du lịch biển

Khơi mạch văn hóa, mở lối du lịch biển
Từ định hướng giải pháp của Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt ra yêu cầu phải phát huy chiều sâu văn hóa, đưa hệ sinh thái di sản biển trở thành nguồn lực phát triển du lịch biển Việt Nam.