Kiểm soát nguy cơ ô nhiễm nguồn nước trong bối cảnh nguồn thải gia tăng
Thời gian qua, công tác bảo vệ môi trường được thành phố Bắc Ninh tập trung chỉ đạo với nhiều giải pháp đồng bộ, từ kiểm soát nguồn thải, xử lý các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng đến đầu tư hạ tầng xử lý chất thải. Đáng chú ý, thành phố đã hoàn thành xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đồng thời không để phát sinh thêm cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mới.
Với tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh, kiểm soát nước thải đang là một thách thức lớn đối với địa phương này. Trong bối cảnh nguồn thải ngày càng gia tăng đòi hỏi Bắc Ninh cần quyết liệt triển khai đồng bộ giải pháp ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm môi trường, trong đó có nguồn nước.
Nguồn nước của thành phố tương đối phong phú, nguồn nước mặt gồm 05 sông chính (sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Thái Bình), 01 nhánh sông chính là Ngũ Huyện Khê và 274 hồ chứa với dung tích trên 36 tỷ m³; hiện nay nhu cầu khai thác nước mặt phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ... khoảng 2 triệu m³/ngày.
Theo quy hoạch giai đoạn 2021 - 2030, nhu cầu khai thác, sử dụng nước mặt khoảng 1.903 triệu m³/năm. Chất lượng nước tại các hồ thủy lợi lớn cơ bản còn tốt; tuy nhiên, một số đoạn sông, kênh, mương còn ô nhiễm cục bộ (BOD5, COD, Fe, vi sinh); ao, hồ bị phú dưỡng do lưu thông kém, nhất là một số kênh, mương tại các khu dân cư ven khu, cụm công nghiệp do tiếp nhận nước thải sinh hoạt phát sinh gia tăng với lưu lượng lớn mà không có hệ thống xử lý.
Đối với nguồn nước ngầm: Khá phong phú, phân bố rộng, được khai thác chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất; theo quy hoạch giai đoạn 2021 - 2030 lượng nước khai thác sử dụng 1.249 triệu m³/năm (chiếm tỷ lệ 39,6%). Theo đánh giá của ngành chức năng, chất lượng nguồn nước cơ bản còn tốt; tuy nhiên, đã xuất hiện tình trạng ô nhiễm cục bộ và suy giảm mực nước tại một số khu vực đô thị, công nghiệp do khai thác với cường độ lớn.
![]() |
| Bắc Ninh triển khai đồng bộ giải pháp bảo vệ chất lượng nguồn nước, đáp ứng yêu cầu sinh hoạt, sản xuất. |
Công tác quản lý, kiểm soát chất lượng nước được quan tâm triển khai, đạt một số kết quả: Đối với các khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động, cơ bản đã thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường nói chung và xử lý nước thải nói riêng, 100% chủ đầu tư hạ tầng KCN đã đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường (hệ thống thu gom và thoát nước mưa, nước thải, nhà máy xử lý nước thải tập trung...);
Bên cạnh đó, 19/22 KCN đang hoạt động đã lắp đặt hệ thống quan trắc, giám sát môi trường tự động để theo dõi thường xuyên, liên tục chất lượng nước thải trước khi xả ra ngoài môi trường và kết nối dữ liệu về Sở Nông nghiệp và Môi trường (còn 03 KCN: Thuận Thành I, Thuận Thành III phân khu B, Gia Bình II chưa thực hiện lắp đặt)...
Trên địa bàn thành phố đã đầu tư hạ tầng tiếp nhận, lưu trữ dữ liệu quan trắc tự động từ các cơ sở truyền về và đầu tư 17 trạm quan trắc môi trường nước mặt để theo dõi, đánh giá chất lượng nguồn nước. Đối với nước thải đô thị, khu dân cư tập trung, làng nghề: Tại các khu dân cư, nước thải sinh hoạt các hộ gia đình thu gom xử lý sơ bộ bằng bể tự hoại. Các khu dân cư tập trung thực hiện đầu tư hệ thống tiêu thoát nước theo chương trình nông thôn mới.
Nước thải y tế cơ bản đã được kiểm soát đảm bảo quy định; tổng lượng nước thải y tế phát sinh khoảng 5.000 m³/ngày được các Bệnh vện, trung tâm y tê, phòng khám đa khoa đầu tư, lắp đặt hệ thống xử lý theo quy định. Nước thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi khoảng 15.500 m³/ngày (bao gồm các cơ sở chăn nuôi tập trung có quy mô lớn và các cơ sở chăn nuôi quy mô hộ gia đình).
Các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn (trang trại) đã đầu tư và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung để thu gom, xử lý nước thải phát sinh. Đối với chăn nuôi hộ gia đình chủ yếu tại các khu vực dân cư nông thôn, nước thải chăn nuôi được thu gom bằng bể biogas xử lý trước khi thải ra môi trường. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt vẫn diễn biến phức tạp, nhất là tại một số sông, kênh, mương, ao, hồ và khu vực làng nghề, cụm công nghiệp.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố, môi trường nước mặt còn ô nhiễm tại nhiều sông, kênh, mương, ao, hồ, chủ yếu do các thông số hữu co, vi sinh, amoni vượt quy chuẩn; trong đó ô nhiễm tập trung tại sông Ngũ Huyện Khê và hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn thành phố. Môi trường nước dưới đất xuất hiện ô nhiễm cục bộ do ảnh hưởng từ nước rỉ rác, hóa chất sử dụng trong sản xuất nông nghiệp và hoạt động khai thác khoáng sản; các thông số ô nhiễm chủ yếu gồm độ cứng, amoni, Coliform và Fe.
Hướng tới mục tiêu trở thành thành phố xanh, thông minh, phát thải thấp; xây dựng hệ thống hạ tầng bảo vệ môi trường đồng bộ, hiện đại đòi hỏi Bắc Ninh cần kiểm soát hiệu quả ô nhiễm môi trường; nâng cao chất lượng môi trường sống của Nhân dân; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2045.
Để kiểm soát nguy cơ ô nhiễm môi trường, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030: 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp thành lập mới trước khi đi vào hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường; 100% cụm công nghiệp đang hoạt động hoàn thành đầu tư xây dựng, đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung.
Bên cạnh đó 100% dự án khu đô thị, khu dân cư mới được đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom và xử lý nước thải; tối thiểu 95% lượng nước thải đô thị loại I và 70% lượng nước thải đô thị loại II được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường. Tối thiểu 80% lượng nước thải phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp; nước thải chăn nuôi và làng nghề xả vào các dòng sông nội tỉnh được thu gom, xử lý đạt quy chuần môi trường; đồng thời, thực hiện cải tạo, nạo vét, nâng cao chất lượng các kênh, mương, ao, hồ điều hòa trên địa bàn.
Thành phố sẽ tăng cường quản lý, giám sát nguồn nước thải công nghiệp: Rà soát, kiểm tra, yêu cầu các khu công nghiệp, cụm công nghiệp thành lập mới hoàn thành đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi đi vào hoạt động. Rà soát, đề xuất đưa ra khỏi quy hoạch đối với 03 cụm công nghiệp không bảo đảm điều kiện đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung (CCN làng nghề Đa Mai, CCN làng nghề Tương Giang, CCN Cầu Đất).
![]() |
| Kiểm soát chất lượng công tác xử lý nước thải tại các khu, cụm công nghiệp là nhiệm vụ qua trọng được đẩy mạnh triển khai. |
Kiên quyết không tiếp nhận dự án đầu tư mới vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp không đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường. Hoàn thành đầu tư, đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung (chậm nhất trong năm 2028) đối với 04 cụm công nghiệp do doanh nghiệp làm chủ đầu tư, gồm: CCN Tân Mỹ, CCN Hương Sơn, CCN Mỹ An và CCN Lâm Bình.
Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các cơ sở xả thải vượt quy chuẩn, nhất là tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề có nguy cơ ô nhiễm cao. Rà soát, phân loại các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm cao (giấy, nhựa tái chế, dệt nhuộm, luyện kim, chăn nuôi quy mô lớn) để xây dựng kế hoạch giám sát, kiểm tra thường xuyên. Yêu cầu 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượngphải lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục thực hiện lắp đặt, vận hành theo đúng quy định. Rà soát, yêu cầu di dời hoặc cải tạo công nghệ đối với các cơ sở gây ô nhiễm hoạt động xen kẽ trong khu dân cư, không đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường.
Thành phố tăng cường quản lý nước thải sinh hoạt đô thị, khu dân cư và làng nghề: Tiếp tục duy trì hoạt động 06 nhà máy xử lý nước thải với tổng công suất 90.500 m³/ngày đêm, gồm: Tại phường Vũ Ninh (28.000 m³/ngày đêm), phường Phù Khê (33.000 m³/ngày đêm), phường Tân Tiến (20.000 m³/ngày đêm), phường Vân Hà (1.500 m³/ngày đêm), làng nghề Phong Khê (5.000 m³/ngày đêm) và xã Lương Tài (3.000 m³/ngày đêm).
Đầu tư xây dựng mới theo quy hoạch 08 nhà máy xử lý nước thải tại các xã, phường: Lương Tài, Tiên Du, Gia Bình, Quế Võ, Thuận Thành, Yên Phong, Việt Yên và Chũ. Thực hiện mở rộng, nâng công suất các nhà máy xử lý nước thải tập trung theo quy hoạch được phê duyệt tại các đô thị loại II, gồm: Kinh Bắc, Bắc Giang và Từ Sơn; nâng công suất Nhà máy xử lý tại phường Vũ Ninh lên 40.000 m³/ngày đêm và Nhà máy xử lý tại làng nghề Phong Khê lên 10.000 m³/ngày đêm.
Yêu cầu các dự án khu đô thị, khu dân cư mới phải đầu tư đồng bộ hệ thống tách nước mưa, nước thải thành các hệ thống thoát nước riêng biệt và có hệ thống thu gom, xử lý nước thải bảo đảm yêu cầu trước khi đưa dân cư vào sinh sống. Rà soát, bố trí nguồn lực cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu, thoát nước tại các khu dân cư, bảo đảm tiểu thoát thông suốt, không để ứ đọng nước thải. Lựa chọn, áp dụng công nghệ sinh học và các công nghệ phù hợp để xử lý nước thải cục bộ tại nguồn đối với các khu đô thị, khu dân cư chưa có điều kiện thu gom về nhà máy xử lý nước thải tập trung hoặc chưa thể tách riêng hệ thống nước mưa và nước thải.
Ngành chức năng tăng cường kiểm soát các nguồn xả thải vào sông Ngũ Huyện Khê, sông Cầu, sông Đuống, sông Thương, hệ thống Bắc Hưng Hải và các kênh, mương thoát nước; chẩm dứt tình trạng xả nước thải chưa qua xử lý vào nguồn nước. Ưu tiên áp dụng các giải pháp sinh học và công nghệ thân thiện với môi trường để xử lý hiện tượng phú dưỡng, cải thiện chất lượng nước. Yêu cầu các cơ sở chăn nuôi tập trung đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung, bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường trước khi xả vào nguồn tiếp nhận
Bắc Ninh chú trọng triển khai giải pháp bảo vệ nguồn nước ngầm: Kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác nước ngầm; tăng cường giám sát mực nước và chất lượng nước ngầm tại các khu vực đô thị, công nghiệp. Chấm dứt khai thác nước ngầm của các hộ gia đình tại khu đô thị; tăng cường sử dụng nước mặt cho sinh hoạt và sản xuất, 100% khu công nghiệp sử dụng nguồn nước mặt nhằm giảm tỷ lệ khai thác nước ngầm.
Triển khai phương án phân vùng cấp nước theo quy hoạch, từng bước chuyển đổi từ sử dụng nước ngầm sang sử dụng nước mặt theo từng khu vực (Vùng 1: Bao gồm các xã, phường sử dụng nguồn nước hồ Cấm Sơn và sông Lục Nam; Vùng 2: Bao gồm các xã, phường sử dụng nguồn nước sông Thương, sông Cầu và hồ Cấm Sơn (qua nhà máy nước DNP Bắc Giang); Vùng 3: Bao gồm các xã, phường sử dụng nguồn nước sông Đuống, sông Cầu; Vùng 4: Bao gồm các xã, phường sử dụng nguồn nước sông Đuống, sông Thái Bình);
Duy trì vận hành hiệu quả 17 trạm quan trắc chất lượng nước mặt tự động. Mở rộng mạng lưới quan trắc tự động tại các sông, hồ và các điểm xả thải lớn; bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ quan quản lý để phục vụ giám sát thường xuyên, liên tục./.
Nguồn: Kiểm soát nguy cơ ô nhiễm nguồn nước trong bối cảnh nguồn thải gia tăng
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Hydrogen xanh - Mảnh ghép cho bài toán Net Zero
Kiểm soát nguy cơ ô nhiễm nguồn nước trong bối cảnh nguồn thải gia tăng




