Nâng cao công tác quản lý, vận hành đảo đảm an ninh nguồn nước
Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới và trong khu vực hiện đang phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến nguồn nước. Theo thống kê, Việt Nam có 3.450 sông, suối với chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có 697 sông, suối, kênh, rạch thuộc nguồn nước liên tỉnh, 173 sông, suối, kênh, rạch thuộc nguồn nước liên quốc gia và 38 hồ, đầm phá liên tỉnh.
Tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng 844,4 tỷ m3. Nước ta cũng là quốc gia có nhiều tiềm năng về nguồn nước dưới đất, tuy nhiên chỉ tập trung chủ yếu ở các khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, Đồng bằng Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên, tổng trữ lượng tiềm năng nước dưới đất trên toàn lãnh thổ ước tính khoảng 91,5 tỷ m3/năm (nước nhạt khoảng 69,1 tỷ m3/năm, nước mặn khoảng 22,4 tỷ m3/năm). Tổng lượng nước bình quân trên đầu người của Việt Nam vào khoảng 8.610 m3/người/năm,
Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất và phát triển đô thị liên tục gia tăng, việc siết chặt quản lý vận hành nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước đang trở thành yêu cầu cấp thiết.
Thực tế cho thấy nhiều khu vực đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nguồn nước, ô nhiễm và thất thoát trong quá trình khai thác, phân phối. Song song với đó, việc đầu tư nâng cấp hạ tầng, xây dựng các phương án dự phòng và kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác cũng được đẩy mạnh nhằm hạn chế rủi ro thiếu nước trong mùa cao điểm.
Không chỉ bảo đảm nhu cầu dân sinh, an ninh nguồn nước còn đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và phát triển bền vững trong dài hạn. Theo lãnh đạo Viện Kỹ thuật biển, trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, đây là đơn vị được giao thực hiện nhiệm vụ giám sát, dự báo chất lượng nước tại nhiều hệ thống thủy lợi trọng điểm khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ nền tảng quan trắc thực địa, phân tích phòng thí nghiệm đến ứng dụng mô hình hiện đại, các bản tin chất lượng nước được cung cấp kịp thời đã hỗ trợ tích cực cho công tác điều hành, vận hành công trình. Từ năm 2014 đến nay, mạng lưới giám sát chất lượng nước đã được mở rộng tại các hệ thống lớn như: hồ Dầu Tiếng, Cái Lớn-Cái Bé, Quản Lộ-Phụng Hiệp và Tứ giác Long Xuyên.
![]() |
| Hồ Dầu Tiếng là một trong những công trình thủy lợi lớn nhất cả nước. |
Các thông số quan trọng như độ mặn, pH, DO, cùng các chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh được theo dõi định kỳ, kết hợp với dự báo bằng mô hình MIKE 11. Các dữ liệu quan trắc và dự báo giúp cơ quan quản lý chủ động điều tiết nguồn nước, lựa chọn thời điểm lấy nước hợp lý, đặc biệt trong bối cảnh xâm nhập mặn diễn biến phức tạp.
Thực tế vận hành tại hồ Dầu Tiếng, một trong những công trình thủy lợi lớn nhất cả nước cho thấy rõ vai trò của khoa học trong điều hành. Lãnh đạo Chi nhánh trạm đầu mối Dầu Tiếng-Phước Hòa, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khai thác thủy lợi Miền Nam cho biết, từ đầu năm 2026 đến nay, đơn vị đã điều tiết khoảng 500 triệu m³ nước qua các cống lấy nước, đồng thời duy trì dòng chảy sau đập với lưu lượng 30 đến 36m³/giây để đẩy mặn cho hạ du sông Sài Gòn, hỗ trợ cấp nước cho Nhà máy nước Tân Hiệp và khu vực ven sông Vàm Cỏ Đông.
Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, chất lượng nước tại nhiều hệ thống thủy lợi có xu hướng cải thiện trong những năm gần đây. Tại hồ Dầu Tiếng, nước cơ bản đáp ứng quy chuẩn phục vụ sinh hoạt và sản xuất sau xử lý. Tuy nhiên, ô nhiễm cục bộ vẫn xuất hiện ở một số khu vực do tác động từ chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt. Tương tự, tại công trình thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé, tình trạng xâm nhập mặn có xu hướng đến sớm, sâu và kéo dài hơn, trong khi một số vị trí vẫn ghi nhận ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vượt ngưỡng.
Các hệ thống Quản Lộ-Phụng Hiệp và Tứ giác Long Xuyên dù có cải thiện nhưng vẫn tồn tại “điểm nóng” ô nhiễm. Ở góc độ quản lý vận hành vùng Đồng bằng sông Cửu Long, lãnh đạo Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khai thác thủy lợi Miền Nam cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay là sự biến động khó lường của nguồn nước và xâm nhập mặn.
Các hệ thống công trình phải vận hành linh hoạt theo diễn biến thực tế, kết hợp chặt chẽ với thông tin dự báo để vừa bảo đảm sản xuất, vừa giảm thiểu rủi ro cho người dân. Để kiểm soát chất lượng nước và ứng phó hiệu quả với xâm nhập mặn, các chuyên gia cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp kỹ thuật.
Trong đó, việc tăng cường quan trắc tự động tại các điểm lấy nước trọng yếu sẽ giúp cảnh báo sớm nguy cơ ô nhiễm và mặn xâm nhập. Bên cạnh đó, kiểm soát nguồn thải từ nông nghiệp và công nghiệp, hướng dẫn người dân sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hợp lý là những giải pháp căn cơ nhằm giảm áp lực lên môi trường nước. Đối với hồ Dầu Tiếng, cần chú trọng kiểm soát nguồn thải thượng lưu, quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản và quy hoạch lại vùng bán ngập.
Trong khi đó, tại Tứ giác Long Xuyên, việc nạo vét, khơi thông dòng chảy và vận hành hợp lý các cống ven biển sẽ góp phần nâng cao khả năng tự làm sạch của hệ thống. Từ thực tiễn vận hành, ngành nông nghiệp và người dân cần chủ động trữ nước, sử dụng tiết kiệm và theo dõi sát các thông báo điều tiết từ hồ.
![]() |
| Đảm bảo an ninh nguồn nước góp phần bảo vệ đời sống, sản xuất của người dân. (Ảnh: ĐP). |
Việc chuyển đổi cây trồng phù hợp, áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm cũng là hướng đi cần thiết để thích ứng với điều kiện nguồn nước ngày càng biến động. Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế phối hợp liên vùng theo lưu vực sông, thay vì quản lý theo địa giới hành chính.
Cùng với đó là xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, đẩy mạnh chuyển đổi số và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan khoa học, đơn vị quản lý và địa phương. Thực tiễn từ các hệ thống thủy lợi phía nam cho thấy, bảo đảm an ninh nguồn nước là bài toán tổng hợp, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa công trình, khoa học và quản lý.
Trước đó, Phó Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1595/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động thực hiện Kết luận số 36-KL/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Quyết định nêu rõ, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước được giao, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo, tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước. Đồng thời các Bộ ngành, địa phương cần tập trung thực hiện 10 nhiệm vụ trọng tâm nhằm đảm bảo, bảo vệ tài nguyên nước…
Bảo đảm an ninh nguồn nước không còn là nhiệm vụ riêng của ngành cấp nước mà cần sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng. Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh cùng những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, việc chủ động quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước sẽ quyết định khả năng phát triển bền vững của mỗi địa phương.
Nguồn: Nâng cao công tác quản lý, vận hành đảo đảm an ninh nguồn nước
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Lào Cai: Kiên trì tạo thành công
Tăng cường hợp tác phát triển du lịch, nông nghiệp giữa Thái Nguyên và Luông Pha Băng
Điểm tin xây dựng - bất động sản ngày 15/5: Hà Nội xây dựng bất động sản gắn với đô thị đa trung tâm
Seoul tăng cường an toàn du lịch với cẩm nang ứng phó thảm họa
Đảm bảo công tác vệ sinh môi trường trong sản xuất muối


