Hà Nội: 32°C
Thừa Thiên Huế: 30°C
Hải Phòng: 31°C
Quảng Ninh: 28°C
TP Hồ Chí Minh: 31°C

Nghiên cứu, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học trong sản xuất và đời sống

Các địa phương cần đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Rà soát, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.
Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển kinh tế-xã hội Đưa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ vào sản xuất, kinh doanh

Chương trình hành động của Chính phủ về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới đặt mục tiêu cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện thắng lợi Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 30/1/2023 của Bộ Chính trị. Theo đó, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện 05 nhiệm vụ, giải pháp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Thống nhất nhận thức về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong tình hình mới: Tổ chức phổ biến, tuyên truyền, giáo dục, quán triệt nội dung của Nghị quyết 36-NQ/TW, Nghị quyết của Chính phủ tạo sự thống nhất trong nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân. Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học là nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các bộ, ngành, địa phương…

Nghiên cứu, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học trong sản xuất và đời sống
(Ảnh minh họa)

Thứ hai, Xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học: Rà soát, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; tạo môi trường thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng, sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học; bảo đảm an toàn sinh học để tạo đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Xây dựng cơ chế, chính sách vượt trội và các mô hình thí điểm áp dụng các cơ chế, chính sách mới/vượt trội để tạo đột phá phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ trong một số lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế, sản phẩm sinh học thân thiện với môi trường.

Thứ ba, Tập trung phát triển, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học trong sản xuất và đời sống; phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng Đề án phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng Đề án phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật lĩnh vực công thương…

Thứ tư, Xây dựng nguồn nhân lực công nghệ sinh học, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học: Xây dựng Đề án đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển công nghệ cao; Đề án hỗ trợ đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu làm chủ công nghệ lõi và Đề án ươm tạo doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học quy mô công nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ mới, sở hữu trí tuệ; nghiên cứu sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học quy mô công nghiệp; xây dụng thương hiệu, thương mại hoá sản phẩm; khai thác, sử dụng hiệu quả các phát minh, sáng chế công nghệ sinh học có giá trị cao của thế giới, ứng dụng hiệu quả trong công nghiệp sinh học…

Thứ năm, Hợp tác quốc tế về công nghệ sinh học: Xây dựng Đề án hợp tác quốc tế về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học gồm chính sách mua, bán, chuyển giao, trao đổi công nghệ; mô hình phát triển kinh tế sinh học.

Trước đó, ngày 30/1/2023, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 30/1/2023 về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới. Nghị quyết đề ra mục tiêu đến năm 2030 nền công nghệ sinh học nước ta đạt trình độ tiên tiến thế giới trên một số lĩnh vực quan trọng, là một trong 10 quốc gia hàng đầu Châu Á về sản xuất và dịch vụ thông minh công nghệ sinh học; được ứng dụng rộng rãi trong các ngành, lĩnh vực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.

Xây dựng nền công nghệ sinh học có nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ sở vật chất, tài chính đủ mạnh đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng; doanh nghiệp công nghiệp sinh học tăng 50% về quy mô đầu tư và quy mô tăng trưởng, thay thế ít nhất 50% sản phẩm công nghệ sinh học nhập khẩu; đóng góp 7% vào GDP; bảo đảm nhu cầu thiết yếu của xã hội. Đến năm 2045 Việt Nam là quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh; khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo về công nghệ sinh học thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á. Công nghiệp sinh học đóng góp 10 - 15% vào GDP.

Nguồn:Nghiên cứu, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học trong sản xuất và đời sống

Quỳnh Vân
thiennhienmoitruong.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin mới nhất

Để dòng sông trở thành nguồn lực phát triển

Để dòng sông trở thành nguồn lực phát triển
Những dòng sông đang cung cấp nguồn nước cho nhiều hoạt động phát triển, từ sản xuất nông nghiệp, nước sinh hoạt đến phát điện. Vì vậy, khai thác phù hợp khả năng của dòng chảy là điều kiện để nguồn lực này được sử dụng hiệu quả, lâu dài.

Biển Đông sẽ xuất hiện 3-5 cơn bão, nhiều đợt mưa lớn trên các vùng miền

Biển Đông sẽ xuất hiện 3-5 cơn bão, nhiều đợt mưa lớn trên các vùng miền
Dự báo từ nay đến hết năm 2026, trên Biển Đông còn khoảng 3-5 cơn bão, trong đó 1-2 cơn có khả năng ảnh hưởng đến đất liền, khoảng 8-10 đợt mưa lớn trên các vùng miền.

Thể chế phải tạo động lực kinh tế đủ mạnh cho chuyển đổi xanh

Thể chế phải tạo động lực kinh tế đủ mạnh cho chuyển đổi xanh
Việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đã trở thành điều kiện có tính sống còn để nền kinh tế Việt Nam duy trì năng lực cạnh tranh, tham gia hiệu quả và bền vững vào chuỗi giá trị toàn cầu. Song trước hết cần một môi trường pháp lý đủ rõ và đủ sức để tạo động lực cho doanh nghiệp chuyển đổi.

Điện hóa phương tiện, hạ tầng tại Việt Nam đang diễn ra thế nào?

Điện hóa phương tiện, hạ tầng tại Việt Nam đang diễn ra thế nào?
Cả nước hiện có 15.024 trạm/cổng sạc; 6,1% phương tiện điện trong tổng số hơn 6,3 triệu phương tiện; 70,9% taxi là xe điện; 23,1% xe buýt sử dụng điện. Nhu cầu điện bổ sung cho giao thông điện đến năm 2030 dự kiến 3 - 4 tỷ kWh/năm.

Ngành nông nghiệp và môi trường nỗ lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng

Ngành nông nghiệp và môi trường nỗ lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng
Cơ quan chức năng đã tập trung giải quyết những điểm nghẽn về đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước và môi trường có tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Ưu tiên gồm đẩy nhanh xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai; phục hồi các nguồn nước bị suy thoái; tăng cường xử lý ô nhiễm không khí, ô nhiễm tại các lưu vực sông, làng nghề và khu vực nông thôn.