Hà Nội: 28°C
Thừa Thiên Huế: 26°C
Hải Phòng: 28°C
Quảng Ninh: 28°C
TP Hồ Chí Minh: 29°C

Phần lớn hồ chứa thủy điện, thủy lợi nguy cơ không đạt dung tích thiết kế

Chủ động từ sớm, từ xa, điều hòa và phân phối nguồn nước theo từng lưu vực thay vì chờ đến khi xảy ra thiếu nước mới xử lý được xem là một trong những giải pháp hiệu quả ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước.

Theo Cục Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dòng chảy trên nhiều lưu vực sông được dự báo thiếu hụt 15-78% so với trung bình nhiều năm. Tình trạng thiếu nước có thể xảy ra trên diện rộng, đặc biệt nghiêm trọng tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên và khu vực Đông Nam Bộ.

Trong khi đó, khả năng tích nước của các hồ chứa cũng đứng trước nhiều thách thức. Phần lớn trong số 705 hồ chứa thủy điện và hơn 130 hồ thủy lợi lớn thuộc 11 quy trình vận hành liên hồ chứa có nguy cơ không đạt dung tích thiết kế, khoảng 65% hồ chứa thủy lợi vừa và nhỏ có thể không tích đủ nước. Do các hồ chứa ngày càng đảm nhiệm nhiều mục tiêu, từ cấp nước nông nghiệp, sinh hoạt đến sản xuất công nghiệp, thiếu hụt nguồn nước dự trữ sẽ gây áp lực lớn cho việc điều hòa nước ở hạ du.

Phần lớn hồ chứa thủy điện, thủy lợi nguy cơ không đạt dung tích thiết kế
Nhiều hồ chứa không đủ dung tích thiết kế. Ảnh minh họa

Tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, khoảng 29 triệu người có nguy cơ chịu tác động bởi suy giảm nguồn nước và gia tăng xâm nhập mặn; khoảng 800.000 ha đất sản xuất có thể đối mặt với nguy cơ thiếu nước. Nhiều hồ chứa được dự báo thiếu 15-80% dung tích, qua đó tạo thêm áp lực đối với an ninh năng lượng khi thủy điện chiếm tỷ trọng đáng kể trong hệ thống điện.

Tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, mức độ dễ tổn thương được đánh giá cao do sông ngắn, dốc, khả năng trữ nước hạn chế và mùa khô kéo dài. Dòng chảy sông Kôn dự báo giảm 72,8%, sông Ba giảm 67,5% và sông Thu Bồn giảm 52,8%. Vì thế, nguồn nước sinh hoạt, sản xuất và các khu công nghiệp ven biển có thể chịu áp lực lớn, trong khi nguy cơ xâm nhập mặn tại hạ lưu Vu Gia - Thu Bồn gia tăng.

Đối với khu vực vùng Tây Nguyên, sản xuất cây công nghiệp và cây lâu năm ngoài phạm vi cấp nước của các công trình lớn được dự báo chịu ảnh hưởng đáng kể. Tỷ lệ chủ động nguồn nước hiện chỉ khoảng 17-19%, khiến nhiều khu vực tại Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng phụ thuộc vào ao hồ nhỏ, sông suối và nước dưới đất.

Trong khi đó, khu vực Đông Nam Bộ có chỉ số căng thẳng nguồn nước mùa khô cao nhất cả nước do nhu cầu đô thị và công nghiệp lớn. Việc vận hành các hồ thủy điện cần được tính toán cân bằng với nhu cầu nước hạ du, nhất là khi công suất thủy điện khu vực này chiếm khoảng 13,8% toàn quốc.

Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, dù có lượng nước mặt lớn, khu vực vẫn nhạy cảm với El Nino do phụ thuộc gần 95% vào nguồn nước ngoại biên từ thượng lưu sông Mekong. Khi hạn hán và xâm nhập mặn gia tăng, các khu vực ven biển có thể chịu tác động mạnh.

Về giải pháp ứng phó, cần chủ động từ sớm, từ xa, điều hòa và phân phối nguồn nước theo từng lưu vực, thay vì chờ đến khi xảy ra thiếu nước mới xử lý. Các giải pháp trọng tâm gồm tăng cường dự báo, cảnh báo sớm hạn hán và xâm nhập mặn; chủ động tích nước ngay từ mùa lũ, ưu tiên nước sinh hoạt; đồng thời xây dựng kịch bản nguồn nước và phương án phân phối cho các lưu vực có nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng.

Ngoài ra, các địa phương cũng cần điều chỉnh cơ cấu cây trồng, mùa vụ, giảm diện tích canh tác tại những vùng không chủ động được nguồn nước. Việc vận hành các công trình khai thác nước hạ du hồ thủy điện cũng cần được tối ưu nhằm hài hòa giữa yêu cầu phát điện và cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất. Hệ thống cấp nước tập trung và nhỏ lẻ cũng cần được rà soát, củng cố. Trong khi nạo vét kênh dẫn, đắp đập tạm, ngăn mặn giữ ngọt cũng được xem là giải pháp bảo vệ nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất.

Nguồn: Phần lớn hồ chứa thủy điện, thủy lợi nguy cơ không đạt dung tích thiết kế

Thiên Lý
thiennhienmoitruong.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin mới nhất

Phần lớn hồ chứa thủy điện, thủy lợi nguy cơ không đạt dung tích thiết kế

Phần lớn hồ chứa thủy điện, thủy lợi nguy cơ không đạt dung tích thiết kế
Chủ động từ sớm, từ xa, điều hòa và phân phối nguồn nước theo từng lưu vực thay vì chờ đến khi xảy ra thiếu nước mới xử lý được xem là một trong những giải pháp hiệu quả ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước.