Thái Nguyên: Lắng nghe đất thở trên nương trà La Giang
![]() |
| Anh Peter (đứng giữa) trở lại thăm đồi chè “7 không” của chị Vi Thị Phương. |
Với người bạn từ xứ sở cối xay gió
Hôm tôi ghé thăm nương chè của chị Phương, một sự tình cờ đầy duyên dáng đã diễn ra. Vườn chè đón một vị khách vô cùng đặc biệt, anh Peter, đại diện đến từ Công ty Đất nước thực phẩm Hà Lan, một tổ chức uy tín thuộc mạng lưới đối tác nước của quốc gia châu Âu xa xôi này.
Sự hiện diện của người đàn ông ngoại quốc với vóc dáng cao lớn giữa bạt ngàn đồi núi không phải là một cuộc dạo chơi ngẫu hứng của du khách phương Tây. Mối lương duyên của anh Peter với mảnh đất La Giang, với vườn chè của chị Vi Phương đã bén rễ sâu từ những ngày sương gió trước đó.
Vào thời điểm chị Phương vừa nhen nhóm ý định táo bạo về việc làm nông nghiệp sạch, may mắn chị biết đến và được tổ chức của Peter hỗ trợ nguồn kinh phí để thực hiện các xét nghiệm mẫu đất chuyên sâu. Qua đó nhằm đánh giá đất ở La Giang liệu có tàn dư của kim loại nặng do những biến thiên địa chất? Đất có đang âm thầm dung túng cho những hoạt chất hóa học độc hại từ thuốc trừ cỏ của những thập kỷ trước để lại? Đất có đủ độ thuần khiết, an toàn để vươn lên những mầm trà tinh túy nhất? Những tờ giấy chứng nhận kết quả phân tích đất vô giá mang về từ phòng thí nghiệm ngày ấy chính là viên gạch nền móng đầu tiên cho một niềm tin lớn lao giữa họ.
Hôm nay, Peter quay lại để để thăm người bạn cũ, để tận mắt ngắm nhìn, tự tay chạm vào lá chè, đưa lên mũi ngửi thứ đất đai tơi xốp đang tự do hít thở. Chị Phương dẫn chúng tôi đi thăm nương chè vừa thu hái, rảo bước qua những vạt đồi mới dặm thêm chè trung du, chè tím quý hiếm.
Vừa đi, chị Phương vừa chỉ cho khách xem những lớp hàng rào sinh học bằng cây xanh được trồng bao bọc xung quanh nhằm tạo ra một vùng đệm an toàn. Ngay đầu bãi, hai khối phân khổng lồ đã được ủ hoai mục từ tro bếp, ngô nghiền, đỗ tương... đang tỏa ra mùi ngai ngái ngòn ngọt, thầm lặng chờ đợi để bón thúc cho lứa chè xuân sắp tới.
Trưa hôm đó, tôi được dự một buổi tiệc thết khách có một không hai. Chị Phương dọn lên một nồi lẩu nghi ngút khói, nước dùng hầm kỹ mang hương thơm thanh khiết. Thay vì những rổ rau muống, cải thảo hay mồng tơi quen thuộc, chị Phương bưng ra một mẹt lớn đầy ắp đọt chè xanh mướt. "Lá chè tươi này là chúng ta vừa hái ngoài nương lúc nãy đấy. Chè được chăm sóc theo phương pháp hữu cơ khi ăn sẽ ngọt, không bị đắng, mọi người ăn thử xem" chị Phương cười - nụ cười rạng rỡ, chân chất, bừng sáng trên khuôn mặt dẫu đã in hằn những vết hằn nhọc nhằn của nắng gió nương đồi.
![]() |
| Quả bồ hòn được chị Phương thu mua để làm chế phẩm chăm sóc cây chè. |
Vị khách người Hà Lan tròn xoe mắt ngạc nhiên, rồi cẩn thận gắp từng búp non thả vào nồi nước dùng đang sôi réo rắt. Sự sáng tạo trong văn hóa ẩm thực của người nông dân xứ trà tiếp tục đưa thực khách đi từ ngỡ ngàng này sang thán phục khác: đĩa búp chè non tẩm bột rán vàng ươm.
Trải nghiệm vị giác ấy thật khó để diễn tả bằng lời. Răng vừa cắn nhẹ, lớp vỏ bột bên ngoài đã giòn tan vỡ ra lạo xạo, lập tức nhường chỗ cho vị chát nhẹ, thanh tao của đọt chè ứa ra lan tỏa khắp khoang miệng. Vị chát ấy chầm chậm thấm vào từng kẽ răng, mơn trớn đầu lưỡi trước khi lắng đọng lại thành một hậu vị ngọt êm dịu nơi cuống họng. Cùng lúc đó, hơi ấm của những ly rượu ngâm từ trà lan tỏa, cả mâm cơm cùng chạm ly trong tiếng cười rôm rả, giòn giã.
Trong khoảnh khắc ấy, tôi bắt gặp ánh mắt Peter ánh lên một sự nể phục dành cho người nông dân trước mặt. Rào cản ngôn ngữ bị xóa nhòa. Hương vị thuần khiết của thiên nhiên và sự thảo thơm, hào sảng của con người Việt Nam tự thân nó trở thành một nhịp cầu giao cảm tuyệt vời nhất.
Bản cam kết trên cổng
Nâng chén rượu trà đượm vị, tôi hỏi chị Phương về ý nghĩa của tấm biển "7 Không" treo trang trọng ngoài cổng vườn. Nghe nhắc đến, đuôi mắt chị khẽ nheo lại. Dường như những tháng ngày đơn độc và đầy rẫy sự hoài nghi của cuộc đời làm nông đang tua chậm lại trong ký ức chị. "7 Không" ấy là lời chị tự răn mình, cũng là điều chị cam kết với người tiêu dùng: Không hương liệu; Không chất tạo màu, tạo mùi; Không chất bảo quản; Không kích thích tăng trưởng; Không phun trừ cỏ; Không phân bón hóa học; Không phun thuốc hóa học.
Nói thì dễ, nhưng để viết lên tấm biển ấy là đánh cược cả sinh kế của gia đình. Giữa bối cảnh nhiều người hối hả chạy đua theo sản lượng để tối ưu hóa lợi nhuận, thì việc khước từ mọi sự can thiệp của hóa chất khiến bước đi ban đầu của chị Phương trở nên vô cùng chật vật. Khi mới bắt tay vào quá trình “cai nghiện” phân bón vô cơ cho đất, hệ quả đến ngay tức thì. Cây chè vốn đang quen với nguồn dưỡng chất ăn liền bỗng chốc rơi vào trạng thái sốc, thiếu hụt dinh dưỡng.
Vườn chè xác xơ, năng suất toàn vườn sụt giảm một cách thê thảm. Cùng lúc đó, các loại sâu bệnh từ tự nhiên ồ ạt kéo đến cắn phá những lứa búp non yếu ớt. Vài người đi ngang tặc lưỡi, râm ran to nhỏ, cho rằng chị Phương "gàn dở", đang yên đang lành lại tự hất đổ nồi cơm của chính gia đình mình.
![]() |
| Các sản phẩm trà của chị Phương được người tiêu dùng yên tâm lựa chọn. |
Đứng trước sự phản kháng của tự nhiên trong quá trình đào thải độc tố và cả những lời xì xầm của dư luận, chị Phương không thỏa hiệp. Chị tích cực tham gia các lớp tập huấn nông nghiệp bền vững, mượn thêm hàng xấp tài liệu về đêm đêm tự chong đèn nghiên cứu, khát khao tìm ra lời giải cho bài toán khó. Cuối cùng, chị đã tìm thấy phương pháp ứng dụng vi sinh vật bản địa vào việc trồng và chăm sóc chè.
Từ những nguyên liệu tự nhiên quen thuộc, rẻ tiền và dễ kiếm như: mật mía, cám gạo, chuối chín... chị Phương tỉ mỉ ủ men, nhân sinh khối các chủng vi sinh vật có lợi, tạo ra một nguồn dưỡng chất dồi dào để phục hồi thể trạng cho đất đai. Đồng thời, cặm cụi giã tỏi ngâm để diệt trừ rầy xanh, lấy ớt cay xua đuổi sâu ăn lá, ủ riềng tạo ra loại dung dịch khắc tinh của nhện đỏ, linh hoạt dùng sáp ong, vỏ dứa chín ngâm làm chất bám dính tự nhiên phủ lên bề mặt lá.
Hằng ngày, chị Phương cần mẫn thu gom thức ăn thừa ủ làm phân bón hữu cơ; dùng quả bồ hòn kết hợp cùng chế phẩm IMO xua đuổi bọ xít muỗi; ngâm trứng gà, đỗ giá, hành tây tạo thành nguồn đạm tự nhiên cực mạnh kích mầm chè vươn lên mơn mởn. Trước đó, ròng rã suốt hàng chục năm qua, không một giọt thuốc diệt cỏ nào còn xuất hiện trên mảnh nương của gia đình chị.
Đất dần được giải độc, trả lại cấu trúc tơi xốp, mềm mại. Giun dế sinh sôi nảy nở, miệt mài cày xới, vạch ra vô vàn những khe hở vi phân cho hệ rễ chè thỏa sức hô hấp dưỡng khí. Nhờ cắm mình vào nền đất khỏe, cây chè tự đánh thức bản năng sinh tồn, đâm rễ sâu xuống các tầng ngậm nước tìm dưỡng chất, tự thân rèn luyện sức đề kháng chống chọi với mầm bệnh. Đền đáp lại tình người, chè vươn lên, lá dày dặn, xanh một màu mỡ màng.
Sự nỗ lực ấy đã được đền đáp xứng đáng. Không chỉ cứu sống khu vườn của mình, đề tài "Ứng dụng vi sinh vật bản địa vào việc trồng và chăm sóc chè" của chị Phương đã đạt Giải Khuyến Khích Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên lần thứ XII (2023-2024). Bằng trí tuệ và ý chí kiên cường, chị đã tự mình bước ra khỏi vạch đích của một người nông dân truyền thống thuần túy, đĩnh đạc trở thành một "nhà khoa học đi chân đất" đầy sức thuyết phục.
Ươm mầm một hệ sinh thái xanh
Với tư duy nhạy bén, chị Vi Thị Phương không dừng lại ở việc bán những lạng chè búp khô đóng túi truyền thống. Dưới bàn tay và khối óc của chị, đồi chè biến thành một hệ sinh thái sản phẩm mang giá trị văn hóa và sức khỏe.
Chị Phương cẩn trọng tuyển lựa những búp non để làm nguyên liệu cho dòng Hồng Trà Organic và Hồng Trà Nụ Hoa. Nhờ quá trình lên men tự nhiên được kiểm soát khắt khe, phương pháp này giúp trích xuất trọn vẹn hương vị tinh túy và các dược chất có lợi, mang đến một thức uống hỗ trợ phòng bệnh tim mạch, tiểu đường, làm đẹp da, chống lão hóa.
Ngay cả những lá chè già trung du trồng lâu năm, phần lá trước đây nhiều người vẫn quen tay vứt bỏ cũng được thu hái, để chế biến thành Trà Bancha. Dòng trà dưỡng sinh mang màu nước trầm mặc, vị thanh mộc, vô cùng lành tính. Nó âm thầm làm nhiệm vụ nuôi dưỡng cơ tim, xoa dịu những cơn co thắt của hệ đường ruột và ôm ấp những hệ thần kinh đang suy nhược.
Đặc biệt nhất, phải kể đến sản phẩm Chè Đâm Thượng Hạng. Dòng chữ được in nắn nót trên nhãn mác như một lời thủ thỉ, gợi nhắc về một không gian hoài niệm: "Chè đâm còn là một thức uống mang đậm bản sắc văn hóa của người dân Xứ Nghệ, thường được dùng để đãi khách quý". Việc chị Phương khéo léo phục dựng lại cách thức uống trà vò lá, giã nát bằng cối đất nung dân dã của miền Trung lồng ghép vào sản vật quê hương mình là một sự giao thoa văn hóa vô cùng trân trọng.
![]() |
| Chị Phương tự ủ phân bón cho cây chè. |
Nhận thức thấu đáo một cánh én nhỏ nhoi khó lòng gọi về cả một mùa xuân rực rỡ, chị Phương, với tư cách là hội viên tiêu biểu của Hội Nông dân xóm La Giang, đã tự nguyện đứng ra làm hạt nhân quy tụ sức mạnh cộng đồng. Tổ nghề nghiệp sản xuất chè hữu cơ xóm La Giang chính thức thành hình, rộn ràng tiếng nói cười với 16 hộ dân mạnh dạn tham gia. Những người nông dân vốn quen làm ăn manh mún đã dần nắm tay nhau bước qua sự hoài nghi ban đầu. Họ cùng nhau ký vào những bản thỏa thuận kiên quyết nói không với hóa chất độc hại.
Một vùng sinh thái xanh đã thức giấc. Vườn chè của cá nhân chị được cấp Chứng nhận hữu cơ PGS. Toàn bộ vùng lõi sản xuất chè của Tổ nghề nghiệp sản xuất chè hữu cơ xóm La Giang quy mô hơn 7ha, với sản lượng hàng chục tấn mỗi năm cũng đã đạt chuẩn VietGAP. Tấm Bằng Khen của Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh Thái Nguyên trao tặng chị Vi Thị Phương vì thành tích xuất sắc trong Phong trào Thi đua yêu nước giai đoạn 2020-2025 chính là kết quả xứng đáng cho sự nỗ lực của người nông dân bé nhỏ.
Trời Quang Sơn dần ngả về chiều muộn, vương vất hương thơm của búp non đang ở kỳ sao sấy. Tiễn Peter ra xe, tôi nghe giọng người đàn ông ngoại quốc ấy cất lên trầm ấm trước lúc tạm biệt: “Phụ nữ Việt Nam rất tuyệt vời, tôi chắc chắn sẽ còn trở lại nơi này”.
Nhìn bóng dáng nhỏ nhắn của chị Phương xa dần, tôi thầm nghĩ, giá trị của nông nghiệp bền vững phải chăng nằm ở sự trù phú của đất và lấp lánh trong nụ cười mãn nguyện của những người nông dân dám đi ngược chiều gió để gìn giữ sự tử tế với nghề nông.
Nguồn: Lắng nghe đất thở trên nương trà La Giang
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
TP. HCM ứng dụng công nghệ trong giám sát xả thải
Cà Mau thúc đẩy liên kết bền vững trong sản xuất lúa gạo
Lào Cai ban hành Kế hoạch bảo tồn, phát triển làng nghề giai đoạn 2026 – 2030
Anh: Chuyển đổi năng lượng sạch, hướng mục tiêu phát thải ròng bằng 0
Chủ động nguồn nước phục vụ sản xuất, ứng phó với hạn mặn
Đọc nhiều




