Giá nông sản hôm nay 25/10: Giá tiêu đi ngang, cà phê giảm dưới 90.000 đồng/kg
| Giá nông sản hôm nay 24/10: Tiêu Đắk Lắk tăng, cà phê giảm sâu, gạo Đài Thơm 8 nhích giá Giá nông sản hôm nay 23/10: Cà phê tiếp đà giảm, hồ tiêu đi ngang, giá gạo xuất khẩu phân hóa |
Giá tiêu hôm nay: Đắk Lắk giữ mốc 140.000 đồng/kg
Thị trường hồ tiêu trong nước ngày 25/10 không ghi nhận biến động mới. Giá tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục dao động trong khoảng 137.000 - 140.000 đồng/kg, cho thấy hoạt động thu mua tương đối ổn định sau những phiên điều chỉnh trước đó.
Cụ thể, tại Đắk Lắk, giá tiêu được thu mua ở mức 140.000 đồng/kg. Khu vực Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, cũng duy trì mức giá này, thuộc nhóm cao nhất cả nước.
Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP Hồ Chí Minh, giá tiêu giữ nguyên ở mức 137.500 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và khu vực Bình Phước, nay thuộc tỉnh Đồng Nai, tiếp tục giao dịch ở mức 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa bàn được khảo sát.
Việc giá tiêu đồng loạt đi ngang cho thấy thị trường chưa xuất hiện thay đổi đáng kể về cung cầu trong ngắn hạn. Mức giá 140.000 đồng/kg tại Đắk Lắk và Đắk Nông tiếp tục được duy trì, trong khi các địa phương còn lại giữ mặt bằng giá tương đối ổn định.
Trong thời gian tới, diễn biến giá tiêu trong nước sẽ phụ thuộc vào lượng hàng đưa ra thị trường, nhu cầu thu mua của doanh nghiệp xuất khẩu và biến động giá hồ tiêu trên thị trường quốc tế.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tại nhiều quốc gia sản xuất chủ chốt tiếp tục đi ngang. Theo dữ liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) trong tài liệu nguồn, giá tiêu đen Indonesia duy trì ở mức 6.850 USD/tấn, còn Malaysia giữ mức 9.100 USD/tấn.
Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 ổn định ở mức 5.800 USD/tấn. Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l đạt 5.950 USD/tấn, trong khi loại 550 g/l được chào bán ở mức 5.995 USD/tấn. Các mức giá này không thay đổi so với phiên trước.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia duy trì ở mức 9.354 USD/tấn. Tiêu trắng Malaysia được chào bán ở mức 12.000 USD/tấn, trong khi Việt Nam giữ mức 8.450 USD/tấn.
Diễn biến trên cho thấy giá hồ tiêu xuất khẩu giữa các quốc gia vẫn có sự chênh lệch đáng kể, tùy thuộc vào chủng loại, chất lượng và điều kiện cung cầu tại từng thị trường.
Theo báo cáo IPC về tuần giao dịch từ ngày 12 - 16/10/2026, thị trường hồ tiêu thế giới diễn biến trái chiều giữa các quốc gia. Tại Mỹ, giá tiêu duy trì ổn định trong tuần thứ hai liên tiếp, trong khi nhu cầu có dấu hiệu cải thiện. Đây là yếu tố có thể hỗ trợ hoạt động giao dịch tại một trong những thị trường nhập khẩu hồ tiêu quan trọng.
Tại Ấn Độ, thị trường ghi nhận diễn biến tích cực, một phần nhờ đồng rupee tăng giá khoảng 1% so với USD. Trong khi đó, giá tiêu nội địa và xuất khẩu của Indonesia tương đối ổn định do cung cầu chưa xuất hiện biến động lớn.
Malaysia ghi nhận mức giảm nhẹ ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu, nhưng biên độ điều chỉnh không lớn. Tại Việt Nam, giá tiêu đen nội địa tăng nhẹ trong tuần khảo sát, còn giá chào xuất khẩu nhìn chung ổn định.
Ở Brazil và Campuchia, giá tiêu đen tiếp tục đi ngang. Giá tiêu trắng Trung Quốc cũng không ghi nhận thay đổi đáng kể.
Nhìn chung, thị trường hồ tiêu quốc tế chưa xuất hiện xu hướng tăng hoặc giảm đồng nhất. Nhu cầu tại Mỹ, diễn biến tỷ giá và khả năng cân đối nguồn cung tại các nước sản xuất tiếp tục là những yếu tố đáng chú ý đối với triển vọng giá trong thời gian tới.
Giá cà phê hôm nay: Giảm phiên thứ tư liên tiếp, xuống dưới 90.000 đồng/kg
Giá cà phê hôm nay 25/10 tiếp tục giảm 1.200 - 1.500 đồng/kg, đưa giá thu mua tại các tỉnh Tây Nguyên xuống còn 89.000 - 89.500 đồng/kg. Đây là phiên giảm thứ tư liên tiếp, trong bối cảnh giá robusta thế giới chịu áp lực từ nguồn cung và hoạt động bán ra.
Cụ thể, tại Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, giá cà phê giảm 1.500 đồng/kg, xuống còn 89.500 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá thu mua cùng giảm 1.300 đồng/kg, về mức 89.500 đồng/kg.
Trong khi đó, Lâm Đồng ghi nhận mức giảm 1.200 đồng/kg, xuống còn 89.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Đáng chú ý, sau bốn phiên giảm liên tiếp, mặt bằng giá cà phê tại Tây Nguyên đã mất khoảng 4.200 - 4.500 đồng/kg so với ngày 21/10.
Tại Đắk Nông, giá cà phê giảm từ 94.000 đồng/kg xuống 89.500 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng lùi từ 93.800 đồng/kg về 89.500 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng giảm từ 93.200 đồng/kg xuống 89.000 đồng/kg.
Việc giá thu mua đồng loạt xuống dưới 90.000 đồng/kg cho thấy đà giảm đang lan rộng tại các vùng trồng cà phê trọng điểm. Diễn biến này tạo thêm áp lực đối với người trồng cà phê, đặc biệt trong giai đoạn thị trường chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch mới.

Trên thị trường quốc tế, giá cà phê robusta tiếp tục giảm trong phiên giao dịch gần nhất, nối dài chuỗi điều chỉnh đi xuống.
Theo dữ liệu từ sàn London trong tài liệu nguồn, hợp đồng robusta giao tháng 11/2026 giảm 60 USD/tấn, tương đương 1,82%, xuống còn 3.228 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 giảm 59 USD/tấn, tương đương 1,79%, về mức 3.242 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá arabica cũng chịu sức ép. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 5 US cent/pound, tương đương 1,6%, xuống còn 307,45 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 giảm 4,05 US cent/pound, tương đương 1,36%, còn 293,40 US cent/pound.
Theo thông tin từ Reuters và Barchart trong tài liệu nguồn, giá arabica chịu áp lực từ hoạt động thanh lý một phần các vị thế mua sau đợt tăng giữa tháng 10, cùng kỳ vọng lượng cà phê đạt chuẩn giao nhận tại Sở Giao dịch Liên lục địa (ICE) có thể được bổ sung.
Trước đó, thị trường ghi nhận gần 28.000 bao arabica đang chờ phân loại và kiểm định tại ICE, mức cao nhất trong hơn một tháng. Tuy nhiên, lượng hàng chờ kiểm định không đồng nghĩa toàn bộ số cà phê này đã được bổ sung vào tồn kho đạt chuẩn.
Giá lúa gạo hôm nay: Thị trường trong nước và xuất khẩu ít biến động
Giá lúa gạo hôm nay 25/10 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định. Giao dịch mua bán lúa diễn ra chậm, trong khi giá gạo nguyên liệu, gạo bán lẻ và gạo xuất khẩu duy trì mặt bằng tương đối ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi Đài Thơm 8 dao động trong khoảng 6.300 - 6.500 đồng/kg; lúa IR 50404 ở mức 5.900 - 6.100 đồng/kg; lúa OM 34 ở mức 5.900 - 6.000 đồng/kg. Các loại lúa khác gồm OM 5451 dao động 6.100 - 6.200 đồng/kg, OM 18 ở mức 6.400 - 6.600 đồng/kg và DS1 ở mức 6.500 - 6.600 đồng/kg.
Tại các địa phương, giao dịch mua bán nhìn chung chậm, giá lúa giữ vững. An Giang ghi nhận hoạt động mua bán trầm lắng, giá lúa biến động nhẹ. Tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long và Cà Mau, nông dân tiếp tục neo giá ở mức cao.
Đối với gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, giá IR 504 dao động 8.900 - 9.000 đồng/kg; CL 555 ở mức 8.800 - 8.900 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg. Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 được giao dịch trong khoảng 9.200 - 9.400 đồng/kg. Trong khi đó, OM 380 và Sóc Thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với nhóm phụ phẩm, giá các mặt hàng dao động trong khoảng 7.850 - 9.500 đồng/kg. Trong đó, tấm ở mức 9.400 - 9.500 đồng/kg, còn cám dao động 7.850 - 8.100 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài được bán với giá 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg.
Các loại gạo phổ thông có giá thấp hơn. Gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg, gạo thường dao động 14.000 - 15.000 đồng/kg và gạo Sóc thường ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Gạo thơm Jasmine được bán với giá 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 và OM 18 cùng dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg. Trong khi đó, gạo Sóc Thái có giá 20.000 đồng/kg và gạo Nhật ở mức 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục bình ổn. Giá nếp 3 tháng khô dao động 9.600 - 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam không ghi nhận biến động đáng kể. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 470 - 475 USD/tấn; gạo 100% tấm ở mức 380 - 384 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán trong khoảng 518 - 522 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm dao động 474 - 478 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 393 - 397 USD/tấn. Ở Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán trong khoảng 384 - 388 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm dao động 327 - 331 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong nước duy trì trạng thái ổn định khi giao dịch chưa sôi động, còn giá xuất khẩu giữa các quốc gia tiếp tục có sự chênh lệch tùy thuộc vào chủng loại và chất lượng gạo.
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 25/10: Giá tiêu đi ngang, cà phê giảm dưới 90.000 đồng/kg
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Arsenal bắt kịp Man City trên bảng xếp hạng Ngoại hạng Anh
Giá vàng ngày 25/10: Tiếp đà lao dốc
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 25/10: USD giằng co, chịu nhiều sức ép
Giá xăng dầu hôm nay 25/10: Giá dầu thế giới tăng mạnh trong tuần
Giá nông sản hôm nay 25/10: Giá tiêu đi ngang, cà phê giảm dưới 90.000 đồng/kg
Đọc nhiều


