Giá nông sản hôm nay 8/9: Cà phê đi ngang, tiêu ổn định, gạo nguyên liệu giảm
| Giá nông sản hôm nay 7/9: Cà phê giảm, tiêu đi ngang, lúa gạo ít biến động Giá nông sản hôm nay 6/9: Cà phê bật tăng, tiêu đi ngang, gạo nguyên liệu giảm |
Giá tiêu hôm nay tiếp tục giữ ổn định
Giá tiêu hôm nay 8/9 tại các vùng sản xuất trọng điểm chưa ghi nhận biến động mới, tiếp tục duy trì trong khoảng 135.000-137.000 đồng/kg.
Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu với mức giá 137.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng tiếp theo ở mức 136.500 đồng/kg. Tại Đồng Nai, Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu cùng được thu mua ở mức 135.000 đồng/kg.
Như vậy, thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục kéo dài trạng thái lặng sóng. Khoảng cách giữa mức giá cao nhất và thấp nhất vẫn là 2.000 đồng/kg, cho thấy mặt bằng giá giữa các vùng nguyên liệu chưa có sự chênh lệch đáng kể.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tại các nước sản xuất lớn cũng chưa xuất hiện nhiều thay đổi trong phiên gần nhất.
Theo dữ liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tiếp tục được niêm yết ở mức 6.929 USD/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil đứng ở 5.750 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia giữ nguyên mức 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục dao động trong khoảng 5.990-6.050 USD/tấn đối với các chủng loại có dung trọng 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia đứng ở 9.487 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt được chào bán ở mức 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
Diễn biến ổn định trên cả thị trường trong nước và một số nguồn cung lớn cho thấy giá hồ tiêu hiện chưa có động lực đủ mạnh để hình thành một xu hướng mới trong ngắn hạn.
Giá cà phê hôm nay đi ngang
Giá cà phê hôm nay 8/9 tại khu vực Tây Nguyên chưa ghi nhận biến động mới, duy trì trong khoảng 94.200-95.000 đồng/kg sau hai tuần giảm liên tiếp.
Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục có mức giá cao nhất với 95.000 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, cà phê cùng được thu mua ở mức 94.700 đồng/kg. Lâm Đồng đứng thấp nhất trong số các địa phương được khảo sát với 94.200 đồng/kg.
Thị trường cà phê trong nước bước vào tuần mới trong trạng thái tương đối ổn định sau khi giảm 300-400 đồng/kg trong tuần trước. Đây cũng là tuần giảm thứ hai liên tiếp của giá cà phê Tây Nguyên.

Trên thị trường thế giới, áp lực điều chỉnh trong tuần vừa qua thể hiện rõ. Tại London, robusta giao tháng 9/2026 giảm 4,2%, tương đương 148 USD/tấn, xuống 3.344 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 2,8%, tương đương 99 USD/tấn, còn 3.430 USD/tấn.
Arabica trên sàn New York giảm mạnh hơn. Hợp đồng giao tháng 9/2026 mất 6,2%, tương đương 21,6 US cent/pound, xuống 324,25 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 5,5%, tương đương 17,3 US cent/pound, chốt tuần ở 295,6 US cent/pound.
Một trong những yếu tố đang gây sức ép lên thị trường là nguồn cung từ Brazil. Vụ thu hoạch niên vụ 2026-2027 gần hoàn tất, trong khi lượng hàng mới tiếp tục được đưa ra thị trường, tạo áp lực lên giá cà phê thế giới.
Giá lúa gạo tiếp tục phân hóa
Trong khi đó, thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục diễn biến chậm. Giá một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu giảm nhẹ, còn giá lúa tươi và gạo bán lẻ tương đối ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 giảm 50 đồng/kg, xuống 8.650-8.750 đồng/kg. Gạo nguyên liệu CL 555 cũng giảm 50 đồng/kg, dao động 8.650-8.750 đồng/kg.
Các loại gạo nguyên liệu khác không ghi nhận biến động. OM 5451 ở mức 9.300-9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200-9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500-7.600 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, giá dao động trong khoảng 7.450-8.750 đồng/kg. Tấm thơm ở mức 8.650-8.750 đồng/kg, trong khi cám dao động 7.450-7.550 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen có mức giá cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000-22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg.
Gạo thơm Jasmine dao động 17.000-18.000 đồng/kg; gạo Đài thơm 15.500-16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg. Gạo thường ở mức 13.500-15.000 đồng/kg; Sóc thường 15.000-16.000 đồng/kg; Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM 18 ở mức 15.500-16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định. Nếp 3 tháng khô có giá 9.600-9.700 đồng/kg, trong khi nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300-7.500 đồng/kg.
Với mặt hàng lúa tươi, OM 34 dao động 5.800-5.900 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 cùng ở mức 6.500-6.700 đồng/kg. Lúa OM 5451 ở mức 6.400-6.500 đồng/kg, còn IR 50404 dao động 6.200-6.400 đồng/kg.
Tại các địa phương, giao dịch mua bán nhìn chung chậm và giá lúa ít biến động. Ở Đồng Tháp, giao dịch lúa mới chậm, nông dân chào giá vững nhưng thương lái mua ít, khiến giá một số loại có xu hướng giảm nhẹ. Tại An Giang, Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long, hoạt động mua bán mới ít, mặt bằng giá lúa tương đối ổn định.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục giữ vững. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 470-480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 373-377 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán 534-538 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm dao động 453-457 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 366-370 USD/tấn. Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm ở mức 364-368 USD/tấn và gạo 100% tấm dao động 304-308 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường nông sản ngày 8/9 tiếp tục phân hóa. Hồ tiêu duy trì mặt bằng ổn định, cà phê tạm thời đi ngang sau hai tuần giảm liên tiếp, trong khi lúa gạo có sự trái chiều khi giá một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu tiếp tục giảm nhưng giá lúa và gạo bán lẻ chưa có biến động đáng kể.
Nguồn:Giá nông sản hôm nay 8/9: Cà phê đi ngang, tiêu ổn định, gạo nguyên liệu giảm
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
“Bài toán kép” giữa tăng trưởng và kiểm soát giá
Đà Nẵng: Công bố thủ tục hỗ trợ thiệt hại do động vật rừng gây ra
Thái Nguyên: Đảm bảo nguồn cung vật liệu xây dựng phục vụ các dự án trọng điểm
Kinh tế tầm thấp: Mở rộng không gian cho dữ liệu carbon và năng lượng
Anh tăng cường kiểm soát, xử lý các bãi rác trái phép
Đọc nhiều


