Phân vùng rủi ro thiên tai, linh hoạt phương án ứng phó
Địa hình tỉnh Gia Lai đa dạng, phức tạp, có sự chuyển tiếp rõ rệt từ vùng cao nguyên, miền núi phía Tây qua vùng trung du đến đồng bằng và ven biển phía Đông. Địa hình nhìn chung bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn ở khu vực miền núi; thấp dần về phía đồng bằng, cửa sông và ven biển.
Khu vực phía Tây mang đặc trưng địa hình cao nguyên và đồi núi, có nhiều sườn dốc, thung lũng hẹp, suối ngắn và độ dốc lưu vực lớn; đây là điều kiện dễ phát sinh lũ quét, sạt lở đất, chia cắt giao thông, thiếu nước cục bộ trong mùa khô và cháy rừng ở những khu vực có thảm thực bì dễ bắt lửa. Khu vực phía Đông và ven biển có địa hình trung du, đồng bằng thấp trũng, cửa sông, đầm phá, cồn cát và dải ven biển hẹp; đây là khu vực thường xuyên chịu tác động của bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, ngập lụt, nước dâng do bão, sạt lở bờ sông, bờ biển và xâm nhập mặn.
Cụ thể, khu vực phía Đông: Là vùng tập trung các rủi ro bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ lụt, ngập đô thị, lũ quét, sạt lở đất, xói lở bờ sông, bờ biển và nước dâng do bão. Lượng mưa năm từ 1.800 - 3.300 mm, bình quân 2.200mm (ở khu vực miền núi giáp tỉnh Quảng Ngãi có lượng mưa đạt 3.300mm, mưa giảm dần từ Bắc đến Nam). Do mùa mưa ngắn (tháng 9-12), cường độ mưa lớn làm gia tăng nhanh nguy cơ lũ, ngập và sạt lở. Khu vực ven biển, cửa sông còn chịu tác động của sóng lớn, nước dâng và nguy cơ mất an toàn tàu thuyền.
Trong khi đó khu vực phía Tây: Nổi bật với các rủi ro hạn hán, thiếu nước, suy giảm nguồn nước mặt và nước dưới đất, nắng nóng và cháy rừng. Lượng mưa trong thời kỳ mùa mưa (tháng 5-10) chiếm trên dưới 90% tổng lượng mưa năm, tạo sự chênh lệch lớn về nguồn nước giữa hai mùa và nguy cơ thiếu nước kéo dài. Bên cạnh đó, các khu vực miền núi, địa hình dốc và dọc sông suối vẫn tiềm ẩn lũ quét, sạt lở đất khi xuất hiện mưa lớn cực đoan.
![]() |
| Các đợt mưa lũ gây thiệt hại nghiêm trọng tại nhiều địa phương. |
Trong những năm gần đây, sạt lở đất, đá xảy ra phổ biến trong tỉnh. Trên các vùng núi, trung du và đồng bằng ven biển đã sạt lở đất, đá nghiêm trọng. Các vụ sạt lở đất, đá tại 08 địa phương: Vùng núi xảy ra tại xã An Vinh, xã Canh Liên; vùng trung du tại xã Bình Phú (tại xã Bình Tường trước đây), xã Vạn Đức (xã Ân Thạnh trước đây). Vùng đồng bằng ven biển tại Hoài Nhơn Đông, Phù Mỹ Đông, vùng núi Cấm, vùng núi Đèo Chánh Oai, Đèo Tân Thanh - xã Cát Tiến, vùng núi Gành - xã Đề Gi và Núi Bà Hỏa - phường Quy Nhơn, Quy Nhơn Nam.
Đáng chú ý, với tình hình hạn hán, nguy cơ thiếu nước ngành chức năng đã xác định rõ khu vực chịu ảnh hưởng. Tại khu vực phía Đông tỉnh: Đối với các địa phương hạ lưu La Tinh ven biển, khi xảy ra khô hạn có hiện tượng xuất hiện xâm nhập mặn, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt. Khô hạn xảy ra khi tháng 1 – 8 có lượng mưa ít, thiếu hụt từ 50 - 70% so với lượng mưa trung bình nhiều năm cùng kỳ, nhiệt độ cao, độ ẩm thấp. Hầu hết các lưu vực sông thường xảy ra khô hạn khi nắng nóng kéo dài.
Khu vực phía Tây tỉnh: Do thiếu hụt lượng mưa và độ ẩm, khu vực phía Tây tỉnh hạn hán có thể xảy ra vào tháng 2 đến tháng 4 (vụ Đông Xuân). Vụ Mùa ở các địa địa phương Ia Pa, Krông Pa thường xuyên xảy ra hạn hán nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.
Trước tình hình trên, trong giai đoạn 2026–2030, công tác phòng, chống thiên tai cần chuyển mạnh từ đánh giá dựa trên các sự kiện đã xảy ra sang chủ động nhận diện và chuẩn bị trước các kịch bản thiên tai cực đoan trong tương lai, phù hợp với yêu cầu sẵn sàng ứng phó với tình huống “xấu hơn, nhanh hơn, rộng hơn, phức tạp hơn” theo Nghị quyết số 210/NQ-CP.
Trên cơ sở số liệu lịch sử và xu thế biến đổi khí hậu, cần đánh giá khả năng gia tăng về cường độ, tần suất và phạm vi ảnh hưởng của các hiện tượng như mưa cực đoan, bão mạnh, lũ lớn vượt mức lịch sử, hạn hán kéo dài, thiếu nước, xâm nhập mặn, cháy rừng và sạt lở đất, sạt lở bờ sông sau các đợt mưa lớn kéo dài. Đặc biệt, cần xem xét các tình huống thiên tai xảy ra đồng thời, liên tiếp hoặc có tính dây chuyền, thời gian diễn biến nhanh và phạm vi ảnh hưởng rộng, từ đó xác định các khu vực, đối tượng và công trình có nguy cơ cao, làm cơ sở xây dựng phương án phòng ngừa, ứng phó và phục hồi phù hợp cho giai đoạn 2026–2030.
Theo kế hoạch, đến năm 2030, tỉnh phấn đấu 100% xã, phường xây dựng, cập nhật kế hoạch phòng, chống thiên tai và phương án ứng phó; 100% địa bàn trọng điểm về thiên tai xác định các hộ dân, nhóm dễ bị tổn thương, tuyến sơ tán và địa điểm an toàn. Các cơ quan quản lý công trình hạ tầng thiết yếu phải có phương án bảo đảm hoạt động liên tục khi xảy ra thiên tai; 100% hồ chứa, đập được kiểm tra trước mùa mưa lũ.
Một trong những mục tiêu đáng chú ý là từng bước chuyển từ cảnh báo theo hiện tượng thiên tai sang cảnh báo dựa trên tác động, cụ thể đến cấp xã và khu dân cư. Các khu vực, loại hình sinh kế có nguy cơ cao được lập bản đồ rủi ro, xây dựng cơ sở dữ liệu số phục vụ công tác quản lý, dự báo và ứng phó.
Vùng cao nguyên, miền núi phía Tây và khu vực thượng nguồn: ưu tiên lồng ghép quản lý rừng đầu nguồn, phòng chống lũ quét, sạt lở đất, cháy rừng, hạn hán, thiếu nước; kiểm soát khai thác khoáng sản, mở đường, san gạt taluy; bảo đảm antoàn hồ chứa, đập dâng, đường giao thông đèo dốc, khu dân cư ven suối và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vùng trung du, chuyển tiếp Đông - Tây: ưu tiên lồng ghép giải pháp điều tiết nước, thoát lũ, chống sạt trượt, bảo vệ hạ tầng giao thông kết nối cao nguyên với duyên hải, bảo vệ vùng sản xuất nông nghiệp, vùng chăn nuôi, cụm công nghiệp và khu dân cư nằm dọc các sông, suối chính.
Vùng đồng bằng, đô thị, ven biển phía Đông: ưu tiên lồng ghép chống bão, nước dâng do bão, ngập lụt, xói lở bờ sông, bờ biển, xâm nhập mặn; bảo đảm không gian thoát lũ, trữ nước, hồ điều hòa, hệ thống tiêu thoát nước đô thị, khu neo đậu tàu thuyền, cảng cá, cảng biển, du lịch biển và an toàn dân cư ven biển, cửa sông, đầm phá. Khu vực đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu du lịch và công trình trọng yếu: yêu cầu tích hợp tiêu chuẩn an toàn thiên tai, kịch bản gián đoạn dịch vụ, phương án thoát nạn, sơ tán, cấp điện dự phòng, cấp nước dự phòng, truyền thông khẩn cấp và phục hồi hoạt động sau thiên tai. Vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng thường bị chia cắt: ưu tiên lồng ghép hệ thống cảnh báo sớm, truyền tin đa phương thức, kho dự trữ tại chỗ, điểm sơ tán an toàn, đường cứu hộ, nước sạch, y tế cơ sở và đào tạo lực lượng xung kích cộng đồng.
![]() |
| Thời gian tới, nhiều khu vực dự báo nguy cơ hạn hán, thiếu nước do tác động từ El Nino. |
UBND tỉnh đề nghị các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp quản lý các ngành, lĩnh vực trọng yếu xây dựng phương án duy trì hoạt động liên tục, giảm thời gian gián đoạn và phục hồi nhanh sau thiên tai, tập trung vào: Khu kinh tế Nhơn Hội: Rà soát nguy cơ ngập lụt, bão, nước dâng và chia cắt; xác định các công trình, nhà máy, kho bãi trọng yếu; bố trí phương án bảo vệ tài sản, nguyên liệu, hệ thống điện – nước và khôi phục sản xuất sau thiên tai.
Các khu công nghiệp: Xác định các điểm có nguy cơ ngập, mất điện, gián đoạn giao thông và cấp nước; xây dựng phương án bảo vệ nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu và duy trì các dịch vụ hạ tầng thiết yếu; chuẩn bị phương án khôi phục sản xuất theo mức độ thiệt hại. Cảng Quy Nhơn: Xây dựng phương án bảo đảm an toàn người, tàu thuyền, hàng hóa và thiết bị; quy định phương án tạm dừng khai thác khi có bão, nước dâng và phương án tổ chức khai thác trở lại ngay sau khi điều kiện an toàn được bảo đảm.
Khu vực Sân bay: Rà soát nguy cơ ngập, bão và gián đoạn giao thông tiếp cận; xây dựng phương án bảo đảm an toàn đường cất hạ cánh, nhà ga, thiết bị và hệ thống kỹ thuật; duy trì các hoạt động thiết yếu và phương án khôi phục khai thác. Hệ thống logistics: Xác định các tuyến giao thông, kho bãi, trung tâm phân phối và đầu mối logistics dễ bị chia cắt; chuẩn bị tuyến vận chuyển thay thế, điểm tập kết dự phòng và phương án điều phối hàng hóa, ưu tiên hàng thiết yếu.
NgànhDu lịch: Xây dựng phương án cảnh báo và sơ tán khách du lịch; xác định các khu, điểm du lịch có nguy cơ bị cô lập; chuẩn bị phương án bảo đảm thông tin liên lạc, giao thông, y tế và khôi phục hoạt động sau thiên tai. Vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản: Xây dựng phương án bảo vệ mùa vụ, vật nuôi, lồng bè, ao nuôi và cơ sở sản xuất; chủ động điều chỉnh lịch sản xuất, nguồn nước và phương án tiêu thoát nước; chuẩn bị vật tư và phương án phục hồi sản xuất sau thiên tai.
Đối với lĩnh vực điện, nước, viễn thông: Xác định các trạm, tuyến và điểm nút trọng yếu có nguy cơ bị ảnh hưởng; bố trí nguồn điện, nước và thiết bị thông tin dự phòng; chuẩn bị lực lượng, vật tư để xử lý sự cố và ưu tiên khôi phục các dịch vụ thiết yếu cho khu dân cư, cơ sở y tế, cơ quan điều hành và các công trình trọng yếu. Thực hiện quản lý rừng bền vững, bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng ven biển, rừng đặc dụng; kiểm soát khai thác khoáng sản, cát, sỏi lòng sông, san gạt taluy, xây dựng trong hành lang thoát lũ; xử lý nghiêm hành vi làm gia tăng rủi ro thiên tai.
Tỉnh đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ rủi ro thiên tai dạng số: Cập nhật, số hóa và tích hợp các bản đồ nguy cơ, mức độ phơi nhiễm và rủi ro đối với các loại hình thiên tai chủ yếu; cho phép cập nhật theo diễn biến thực tế và phục vụ trực tiếp công tác chỉ huy, điều hành, quy hoạch và quản lý phát triển. Quy định việc sử dụng bản đồ rủi ro thiên tai là tài liệu đầu vào khi lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kế hoạch đầu tư công, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất và phương án bố trí dân cư.
Phát triển dự báo dòng chảy đến hồ chứa: Xây dựng hệ thống dự báo dòng chảy đến các hồ chứa trên cơ sở tích hợp dữ liệu mưa, khí tượng, thủy văn và vận hành hồ; ưu tiên các hồ chứa có vai trò lớn đối với điều tiết lũ, cấp nước và phòng, chống thiên tai. Xây dựng hệ thống cảnh báo theo tác động: Chuyển từ cảnh báo đơn thuần về hiện tượng sang cảnh báo gắn với mức độ ảnh hưởng đến dân cư, công trình, giao thông, sản xuất và các khu vực trọng yếu, qua đó hỗ trợ chính quyền các cấp xác định rõ khu vực cần sơ tán, bảo vệ hoặc ứng phó.
Phát triển hệ thống quan trắc, cảnh báo sớm gồm trạm mưa tự động, đo mực nước, camera giám sát, cảnh báo xả lũ, cảnh báo sạt lở, cảnh báo cháy rừng; kết hợp loa truyền thanh, tin nhắn, nền tảng số, mạng xã hội chính thống, hệ thống thông tin nghề cá và lực lượng Biên phòng để truyền tin tới vùng sâu, vùng xa, vùng biển, đảo và tàu thuyền. Cảnh báo ngập theo thời gian thực: Từng bước xây dựng hệ thống giám sát và cảnh báo ngập trên cơ sở kết hợp dữ liệu mưa, mực nước, địa hình, mô hình thủy lực và quan trắc thực tế; cung cấp thông tin nhanh về phạm vi, độ sâu và diễn biến ngập để phục vụ chỉ huy ứng phó./.
Nguồn:Phân vùng rủi ro thiên tai, linh hoạt phương án ứng phó
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Công nghệ tưới tiết kiệm góp phần đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất
Mở rộng cơ hội xuất khẩu gỗ từ các thị trường ngách
Nắng nóng cực đoan gây tổn thất nặng nề cho châu Âu
Hệ sinh thái khỏe mạnh giúp nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu
Nâng cao năng lực ứng phó với cháy rừng trong mùa khô
Đọc nhiều




