Phát triển vùng nông sản chủ lực gắn với chế biến sâu
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành nông nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi được đẩy mạnh; hơn 534 nghìn ha rừng được quản lý, bảo vệ thường xuyên. Đây là nền tảng để tỉnh tiếp tục thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Từ những vùng sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, nông nghiệp Lạng Sơn đang từng bước hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với doanh nghiệp, chế biến và thị trường tiêu thụ. Hiện toàn tỉnh có khoảng 4.596 ha na, sản lượng đạt khoảng 40.000 tấn mỗi năm, giá trị kinh tế từ 1.200 đến 1.500 tỷ đồng. Nhờ sản xuất theo quy trình thống nhất, nhiều diện tích na đã đủ điều kiện tham gia các chuỗi cung ứng vào hệ thống siêu thị, cửa hàng nông sản an toàn và các sàn thương mại điện tử.
Theo các HTX sản xuất na trên địa bàn, sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP thường có giá bán cao hơn từ 10% đến 20% so với sản xuất thông thường. Nhiều diện tích na hiện cho thu nhập từ 250 đến 300 triệu đồng/ha mỗi năm. Tại vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm Chi Lăng hiện đã hình thành 10 chuỗi liên kết đối với các sản phẩm chủ lực như na, hồi, ớt, khoai tây, lạc và đào. Thông qua các chuỗi liên kết, việc sản xuất được tổ chức theo cùng một quy trình từ chăm sóc, ghi chép nhật ký sản xuất, kiểm soát chất lượng đến thu hoạch và tiêu thụ.
![]() |
| Hiện toàn tỉnh có khoảng 4.596 ha na, sản lượng đạt khoảng 40.000 tấn mỗi năm (Ảnh minh họa). |
Đối với cây hồi, toàn tỉnh có khoảng 43.000 ha hồi, trong đó trên 28.000 ha đang cho thu hoạch ổn định. Cùng với việc phát triển vùng nguyên liệu, nhiều doanh nghiệp và cơ sở sản xuất đã đầu tư chế biến sâu, kéo dài chuỗi giá trị từ hoa hồi nguyên liệu đến các sản phẩm tinh dầu, dược liệu và hương liệu.
Theo ngành nông nghiệp, giá trị sản xuất từ cây hồi của Lạng Sơn hiện đạt khoảng 1.700 tỷ đồng mỗi năm, tăng so với mức khoảng 1.500 tỷ đồng năm 2022. Nếu như trước đây phần lớn sản lượng hồi được tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu khô thì hiện nay việc phát triển vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn, kết hợp chế biến tinh dầu và các sản phẩm từ hồi đang giúp mở rộng thị trường tiêu thụ, gia tăng giá trị sản phẩm và giảm phụ thuộc vào xuất bán nguyên liệu thô.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường Lạng Sơn, khi vùng nguyên liệu được mở rộng và chất lượng sản phẩm được kiểm soát đồng đều, các doanh nghiệp cũng mạnh dạn đầu tư vào khâu thu mua, sơ chế và chế biến. Đây là cơ sở để nhiều nông sản chủ lực của Lạng Sơn tham gia vào hệ thống siêu thị, các sàn thương mại điện tử và thị trường xuất khẩu.
Tỉnh Lạng Sơn đang triển khai đồng bộ Nghị quyết số 24-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển nông, lâm nghiệp tập trung, bền vững gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm giai đoạn 2026-2030. Trong đó, tập trung khai thác, tận dụng tốt lợi thế về điều kiện tự nhiên, xây dựng và phát triển các vùng sản xuất nông, lâm nghiệp tập trung theo chuỗi giá trị;
Tỉnh chú trọng phát triển vùng sản xuất hàng hóa các loại sản phẩm chủ lực, có thế mạnh cạnh tranh, hướng tới xuất khẩu, phấn đấu đến năm 2030, diện tích áp dụng GAP, hữu cơ, mã số vùng trồng và các tiêu chuẩn khác đạt 2.000 ha; diện tích được cấp mã số rừng trồng 5.000ha, duy trì và cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững 20.000 ha.
Với cây hồi, Lạng Sơn sẽ duy trì diện tích trồng hồi đến năm 2030 khoảng 55.000 - 56.000 ha, trong đó diện tích rừng hồi hữu cơ khoảng 2.000 ha; cải tạo để trồng thay thế diện tích hồi già cỗi, có năng suất chất lượng thấp, ưu tiên trồng lại bằng giống cây hồi ghép. Vùng trồng tập trung tại địa bàn các xã Yên Phúc, Tân Đoàn, Khánh Khê, Điềm He, Tri Lễ, Văn Quan, Thiện Thuật, Bình Gia, Hồng Phong, Tân Văn, Hoa Thám, Thiện Hòa, Thiện Long, Quý Hòa, Bằng Mạc, Hoàng Văn Thụ...
Giai đoạn 2026-2030, tiếp tục duy trì chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng thương hiệu sản phẩm hồi tại các xã Tràng Định, Văn Quan. Phát huy hết công suất của các cơ sở đã chế biến và xuất khẩu mặt hàng tinh dầu hồi chất lượng hiện có. Thu hút đầu tư 1-2 doanh nghiệp chế biến các sản phẩm hồi và các hợp tác xã tham gia vào chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm mở rộng phát triển vùng chỉ dẫn địa lý hoa hồi.
Tỉnh duy trì và phát triển diện tích rừng quế đạt khoảng 10.000 - 15.000 ha, mở rộng diện tích quế hữu cơ, quế theo tiêu chuẩn VietGAP, mã số vùng trồng để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; đẩy mạnh chế biến, chế biến sâu; đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường. Vùng sản xuất tập trung tạo các xã Tân Tiến, Đoàn Kết, Tràng Định, Quốc Khánh, Thất Khê, Quý Hòa, Hoa Thám, Thiện Long, Tân Tri,...
Giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh tiếp tục duy trì chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng thương hiệu sản phẩm quế tại các xã Tràng Định, Đoàn Kết, Thất Khê; thu hút đầu tư thêm các hợp tác xã tham gia vào chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Trong thời gian tới, Lạng Sơn phát triển cây mắc ca trở thành cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế cao, gắn trồng Mắc ca với bảo vệ rừng và du lịch sinh thái, nâng cao thu nhập cho người dân, diện tích đến năm 2030 khoảng 6.000 - 8.000 ha. Tỉnh chú trọng đầu tư phát triển hệ thống sơ chế, chế biến hạt mắc ca đồng bộ với vùng nguyên liệu; đa dạng hóa sản phẩm (hạt sấy, nhân Mắc ca, dầu Mắc ca…), phát triển sản phẩm OCOP.
Đối với cây na, các địa phương tập trung thâm canh nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; tiếp tục mở rộng thêm diện tích đối với nơi có điều kiện; đẩy mạnh chế biến, chế biến sâu; đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường. Vùng sản xuất tập trung tại các xã Tân Thành, Vân Nham, Thiện Tân, Hữu Liên, Cai Kinh, Yên Bình, Chi Lăng, Bằng Mạc, Vạn Linh, Nhân Lý,… Giai đoạn 2026-2030 diện tích trồng na toàn tỉnh đạt trên 4.500ha. Tỉnh sẽ thu hút đầu tư các cơ sở chế biến, các doanh nghiệp, HTX tham gia vào chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, phát triển các sản phẩm OCOP.
![]() |
| Kiểm soát nông sản tại các vùng nguyên liệu góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm sau chế biến (Ảnh minh họa). |
Để tiếp tục phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến, Lạng Sơn xây dựng và nhân rộng các mô hình khuyến nông ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ đối với các cây trồng gắn với liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm: sử dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao; rải vụ thu hoạch; chống chịu tốt với sâu bệnh hại, thích ứng với biến đổi khí hậu; quy trình tưới nước tiết kiệm; mô hình thâm canh bền vững; áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM)...
Tiếp tục thực hiện chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở sơ chế, chế biến sản phẩm các loại sản phẩm chủ lực, đặc sản có giá trị kinh tế cao; phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp định hướng quy mô vùng trồng; thúc đẩy hình thành các chuỗi liên kết sản xuất từ xây dựng vùng trồng. Đối với hộ gia đình, cần liên kết dưới hình thức tổ hợp tác, HTX để hình thành vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn, gắn với xây dựng mã số vùng trồng truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ sản phẩm./.
Nguồn:Phát triển vùng nông sản chủ lực gắn với chế biến sâu
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Ứng phó biến đổi khí hậu, Đức tăng cường giám sát diễn biến mực nước
Phát triển vùng nông sản chủ lực gắn với chế biến sâu
Đọc nhiều




