Giá nông sản hôm nay 1/4: Cà phê giảm sâu dưới mốc 90.000 đồng/kg, tiêu tăng trở lại, lúa gạo biến động nhẹ
Giá cà phê hôm nay
Bước sang phiên giao dịch đầu tháng 4, thị trường cà phê trong nước ghi nhận cú giảm sâu hiếm thấy, kéo giá xuống dưới ngưỡng tâm lý 90.000 đồng/kg. Tại khu vực Tây Nguyên, giá cà phê hiện chỉ còn dao động trong khoảng 87.000 – 87.700 đồng/kg, giảm mạnh 4.700 – 4.800 đồng/kg so với ngày trước đó.
Đắk Nông là địa phương có mức giá cao nhất nhưng cũng chỉ còn 87.700 đồng/kg sau khi giảm 4.800 đồng/kg. Tương tự, Đắk Lắk và Gia Lai cùng giảm 4.800 đồng/kg xuống 87.500 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng giảm 4.700 đồng/kg, xuống còn 87.000 đồng/kg – mức thấp nhất hiện nay.
Đây là mức giảm mạnh nhất trong nhiều tuần, phản ánh rõ áp lực từ thị trường quốc tế và tâm lý bán ra gia tăng trong ngắn hạn. Trên thị trường thế giới, giá cà phê đồng loạt lao dốc trong phiên 31/3, đặc biệt là robusta. Cụ thể, trên sàn London, hợp đồng robusta tháng 5/2026 giảm tới 4,83% (174 USD/tấn), xuống còn 3.419 USD/tấn – mức thấp nhất trong vòng 7,5 tháng; hợp đồng tháng 7/2026 cũng giảm 4,77% xuống 3.348 USD/tấn.
Trong khi đó, trên sàn New York, giá arabica tháng 5/2026 giảm 3,02% xuống 292,55 US cent/pound, hợp đồng tháng 7/2026 giảm 3,13% còn 286,6 US cent/pound.
![]() |
Nguyên nhân chính khiến giá cà phê lao dốc đến từ kỳ vọng nguồn cung toàn cầu gia tăng mạnh. Các tổ chức phân tích dự báo sản lượng cà phê Brazil niên vụ 2026–2027 có thể đạt 75–76 triệu bao, tăng đáng kể so với năm trước. Riêng hợp tác xã Cooxupe dự kiến thu mua khoảng 6,8 triệu bao, tăng gần 12%. Bên cạnh đó, nguồn cung từ châu Á và châu Phi cũng có xu hướng cải thiện, trong khi nhu cầu tiêu thụ toàn cầu chưa phục hồi tương xứng. Đồng USD tăng lên mức cao nhất trong hơn 10 tháng càng tạo thêm áp lực lên giá hàng hóa.
Tuy nhiên, trong phiên giao dịch ngày 1/4, giá cà phê đã phục hồi trở lại. Giá robusta kỳ hạn tháng 5/2026 tăng 2,16% (74 USD/tấn) lên 3.493 USD/tấn, trong khi arabica tăng gần 2% lên 298,35 US cent/pound. Nguyên nhân đến từ việc đồng Real Brazil mạnh lên, làm giảm động lực bán ra của nông dân nước này, đồng thời kích hoạt hoạt động mua bù bán khống trên thị trường. Dù vậy, các yếu tố cơ bản vẫn mang tính tiêu cực khi kỳ vọng vụ mùa lớn tại Brazil vẫn hiện hữu.
Ở góc độ cung cầu, tồn kho cà phê tại các khu vực tiêu thụ lớn vẫn duy trì ở mức thấp lịch sử. Tồn kho tại Nhật Bản khoảng 2,21 triệu bao, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình 5 năm, trong khi tồn kho tại châu Âu chỉ khoảng 6,8 triệu bao, giảm so với tháng trước và cùng kỳ. Điều này cho thấy thị trường vẫn tiềm ẩn rủi ro biến động nếu xảy ra gián đoạn nguồn cung hoặc logistics. Trong ngắn hạn, giá cà phê nhiều khả năng tiếp tục giằng co hoặc chịu áp lực giảm khi thị trường đang “tiêu hóa” các thông tin về nguồn cung toàn cầu.
Giá hồ tiêu hôm nay
Trái ngược với cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước ghi nhận xu hướng tăng giá rõ rệt trong ngày 1/4. Sau giai đoạn đi ngang, giá tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm tăng thêm 500 – 1.000 đồng/kg, đưa mặt bằng giá lên mức 140.000 – 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk và Đắk Nông tiếp tục dẫn đầu với mức giá 141.000 đồng/kg, trong khi Bà Rịa – Vũng Tàu đạt khoảng 140.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cũng ghi nhận mức giá quanh 140.000 đồng/kg.
Diễn biến này cho thấy lực cầu trên thị trường vẫn duy trì tốt trong bối cảnh nguồn cung không quá dồi dào. Tâm lý giữ hàng của nông dân cũng là yếu tố quan trọng góp phần hạn chế áp lực bán ra, qua đó hỗ trợ giá duy trì ở vùng cao.
![]() |
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu nhìn chung ổn định. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia ở mức khoảng 7.005 USD/tấn, Brazil duy trì quanh 6.100 USD/tấn, trong khi Malaysia vẫn ở mức cao nhất khoảng 9.300 USD/tấn. Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu dao động trong khoảng 6.300 – 6.400 USD/tấn đối với các loại phổ biến, cho thấy sự ổn định của kênh xuất khẩu.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tại Indonesia, Malaysia và Việt Nam cũng không có nhiều biến động, phản ánh trạng thái cân bằng của thị trường toàn cầu. Nhìn chung, biến động giá tiêu hiện chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố cung tại từng quốc gia và biến động tỷ giá, thay vì các yếu tố mang tính hệ thống.
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, nhu cầu tiêu thụ hồ tiêu toàn cầu vẫn duy trì ổn định, đặc biệt tại các thị trường lớn như châu Âu và Mỹ. Trong bối cảnh nguồn cung chưa tăng đột biến, giá tiêu được dự báo sẽ tiếp tục dao động trong vùng cao trong ngắn hạn.
Giá lúa gạo hôm nay
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa tươi trong ngày 1/4 ghi nhận sự điều chỉnh nhẹ. Giá lúa tươi OM 18 hôm nay tăng 50 đồng/kg dao động ở mốc 5.600 - 5.750 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) tăng 50 đồng/kg dao động ở mốc 5.600 - 5.750 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.200 - 5.300 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg.
Hoạt động giao dịch tại các địa phương diễn ra khá chậm. Nguồn cung lúa thơm trên thị trường tương đối dồi dào, trong khi nhu cầu thu mua chưa thực sự sôi động. Tại một số địa phương như Đồng Tháp, Vĩnh Long hay Cà Mau, giao dịch mua bán còn hạn chế, giá ít biến động.
![]() |
Đối với mặt hàng gạo, giá nội địa nhìn chung đi ngang. Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 7.950 - 8.050 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động ở mức 8.350 - 8.450 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, gạo các loại đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, gạo Việt Nam tiếp tục duy trì mức giá cạnh tranh. Gạo 5% tấm được chào bán trong khoảng 400 – 415 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 316 – 320 USD/tấn, còn gạo Jasmine dao động quanh 430 – 434 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm xuất khẩu dao động 381-385 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 363 - 367 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán dao động 351 - 355 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 304 - 308 USD/tấn.
So với các nước xuất khẩu lớn như Thái Lan và Ấn Độ, giá gạo Việt Nam vẫn giữ được lợi thế nhất định, dù áp lực từ nguồn cung toàn cầu vẫn còn.
Có thể bạn quan tâm
Tin mới nhất
Bắc Ninh: Nâng cao quản lý hoạt động thu gom, xử lý rác sinh hoạt
Tuyên Quang phát triển hợp tác xã, nâng tầm thương hiệu nông sản
Khai thác hiệu quả thị trường carbon rừng
HLV Malaysia ‘than vãn’ sau trận thua tuyển Việt Nam
Giá vàng ngày 1/4: Đồng loạt tăng vọt
Đọc nhiều



