Hà Nội: 28°C
Thừa Thiên Huế: 27°C
Quảng Ninh: 25°C
TP Hồ Chí Minh: 28°C
Hải Phòng: 28°C

Lào Cai: Quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên nước

Trước tác động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy, chất lượng nguồn nước... tỉnh Lào Cai triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm quản lý hiệu quả, khai thác hợp lý, bền vững nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế- xã hội.

Trên địa bàn tỉnh Lào Cai có hệ thống sông suối dày đặc được phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh với 2 con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Chảy bắt nguồn Trung Quốc. Đây là nguồn cung cấp nước mặt lớn cho tỉnh với khối lượng nước hàng chục tỷ m3/năm và hàng nghìn km sông, suối lớn nhỏ phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp và sinh hoạt và cũng là điều kiện thuận lợi cho Lào Cai phát triển các công trình thủy điện vừa và nhỏ.

Bên cạnh đó, tỉnh Lào Cai còn có nhiều ao hồ, đầm, đập chứa nước, trong đó lớn nhất là hồ Thác Bà với diện tích mặt hồ 19.050 ha chiều dài 80 km chỗ rộng nhất 15 km, độ sâu lòng hồ khoảng từ 15 đến 34m, tổng lượng nước trong hồ lên tới 2,9 tỷ m3. Ngoài ra, tỉnh Lào Cai còn có trữ lượng lớn nước ngầm, nước khoáng khá lớn.

Lào Cai: Quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên nước
Tài nguyên nước giữ vai trò quan trọng cho mọi hoạt động của phát triển kinh tế-xã hội.

Xác định nguồn tài nguyên nước giữ vai trò quan trọng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế-xã hội, tỉnh Lào Cai triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trong giai đoạn 2026-2030, Lào Cai đặt mục tiêu100% công trình khai thác tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh thuộc đối tượng phải quan trắc, giám sát tự động, trực tuyến được quan trắc, giám sát theo quy định. 50% các nguồn nước phải cắm mốc bảo vệ hành lang nguồn nước được cắm mốc bảo vệ hành lang nguồn nước. Hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước toàn tỉnh. Thu ngân sách từ tài nguyên nước giai đoạn 2026-2030 đạt trung bình từ 2.000 tỷ đồng/năm trở lên.

Trong giai đoạn này, tỉnh triển khai đánh giá tình hình ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt, nguồn nước mặt, nước dưới đất; phân loại nguồn nước theo mức độ ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; Thực hiện điều tra, đánh giá, xác định và công bố dòng chảy tối thiểu, khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ và lập bản đồ phân vùng tiếp nhận nước thải của nguồn nước trên các sông liên tỉnh, liên quốc gia của các sông nội tỉnh còn lại.

Thực hiện việc điều tra, đánh giá tổng hợp tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:50.000 đến 1:25.000 đối với nguồn nước nội tỉnh ở những vùng, khu vực nước dưới đất có tiềm năng lớn, là đối tượng khai thác chủ yếu để cấp nước cho sinh hoạt, các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, các đô thị, khu dân cư tập trung (nếu có); Kiểm kê tài nguyên nước cấp tỉnh giai đoạn đến năm 2030;

Lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp với kịch bản nguồn nước; Kế hoạch bảo vệ nước dưới đất; công bố vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất. Tổ chức điều tra cơ bản, lập hành lang, cắm mốc giới hành lang bảo vệ nguồn nước đối với sông Hồng, sông Chảy chảy qua địa phận tỉnh;

Khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, phòng chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước; bảo đảm 100% hồ chứa lớn được kiểm soát, giám sát để duy trì dòng chảy tối thiểu của các lưu vực sông, suối trên địa bàn tỉnh cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất, điều tiết lũ cho các vùng hạ lưu, 100% công trình khai thác tài nguyên nước phát sinh mới trên địa bàn tỉnh thuộc đối tượng phải quan trắc, giám sát tự động, trực tuyến được quan trắc, giám sát theo quy định; 100% lưu vực sông, suối lớn trên địa bàn tỉnh có hệ thống quan trắc, giám sát tự động, trực tuyến.

Lào Cai: Quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên nước
Đảm bảo cấp nước sạch sinh hoạt là nhiệm vụ quan trọng được đẩy mạnh triển khai.

Tiếp tục đầu tư nâng cấp, sửa chữa, bảo đảm an toàn các hồ chứa nước, kè chống sạt lở bờ sông suôi (sông Hồng, sông Chảy, suối Ngòi Bo, suôi Nung, suôi Thìa...), phấn đấu 100% các khu vực ngầm tràn được giám sát và cảnh báo độ sâu mực nước ngập. Điều tra, quan trắc, giám sát tài nguyên nước; cải tạo, phục hồi các nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái (nếu có);

Ưu tiên bố trí vốn xây dựng và duy trì công trình cấp nước tập trung cho các vùng khó khăn, vùng khan hiếm nước.Tăng cường năng lực hạ tầng cung cấp nước sạch cho khu dân cư, đặc biệt là những vùng chịu tác động của bão, lũ, hạn hán. Bảo vệ, duy trì, nâng cấp các hồ trong đô thị, khu dân cư chống ngập đô thị, tạo cảnh quan sinh thái..., như hồ Yên Hòa, hồ Km5, hồ Công viên Nhạc Sơn.../.

Nguồn: Lào Cai: Quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên nước

Ngọc Ánh
thiennhienmoitruong.vn

Có thể bạn quan tâm

Tin mới nhất

Điểm tin xây dựng - bất động sản ngày 24/10: Hà Nội ưu tiên “làn xanh” tháo gỡ vướng mắc cho 258 dự án

Điểm tin xây dựng - bất động sản ngày 24/10: Hà Nội ưu tiên “làn xanh” tháo gỡ vướng mắc cho 258 dự án
Hà Nội ưu tiên tháo gỡ vướng mắc cho 258 dự án chậm triển khai; Đường Vành đai phía Tây Cần Thơ tăng vốn lên hơn 6.400 tỷ đồng... là những thông tin đáng chú ý trong lĩnh vực xây dựng - bất động sản.

Phát triển khoa học-công nghệ phục vụ tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường

Phát triển khoa học-công nghệ phục vụ tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường
Thanh Hóa sẽ thúc đẩy phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng, tiếp nhận, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ sinh học; tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp của tỉnh.

Phát triển bền vững nghề muối trước tác động của biến đổi khí hậu

Phát triển bền vững nghề muối trước tác động của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến phức tạp, đặc biệt trong giai đoạn vừa qua, xuất hiện nhiều đợt mưa trái mùa trong vụ mùa sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình kết tinh muối, làm giảm năng suất và sản lượng.

Khuyến khích sản xuất, sử dụng sản phẩm nhựa thân thiện với môi trường

Khuyến khích sản xuất, sử dụng sản phẩm nhựa thân thiện với môi trường
Một trong những nhiệm vụ quan trọng được tỉnh Lâm Đồng xác định triển khai tại kế hoạch quản lý, giảm thiểu chất thải nhựa là lhuyến khích sản xuất, sử dụng sản phẩm nhựa thân thiện với môi trường và thúc đẩy tái sử dụng, tái chế theo hướng kinh tế tuần hoàn.

Dệt may giữ đà xuất khẩu, đối mặt sức ép chi phí

Dệt may giữ đà xuất khẩu, đối mặt sức ép chi phí
Xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt khoảng 37,3 tỷ USD trong 9 tháng năm 2026, nhiều doanh nghiệp cơ bản bảo đảm đơn hàng đến hết năm, thậm chí đã có kế hoạch sản xuất cho năm 2027. Tuy nhiên, biến động thuế quan, chi phí nguyên liệu, logistics và tiền lương đang tạo sức ép lên biên lợi nhuận, buộc doanh nghiệp chuyển trọng tâm từ duy trì kim ngạch sang nâng hiệu quả từng đơn hàng.